Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Lễ dâng hương tại Y miếu Thăng Long


Sáng ngày 28/2/2010 (15 tháng giêng, năm Canh Dần), Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên cùng lãnh đạo các Vụ, Cục, Văn Phòng, Thanh Tra, Tổng Cục, Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung ương đã tới dự lễ dâng hương Danh y Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông và các bậc tiền bối tại Y miếu Thăng Long.

Y Miếu Thăng Long được xây dựng dưới thời Hậu Lê (1774) theo sáng kiến của Trưởng Viện Thái Y Trịnh Đình Ngoạn, người làng Định Công, Thanh Trì, Hà Nội. Y Miếu Thăng Long hiện nay nằm tại số nhà 12, phố Y Miếu thuộc phường Văn Miếu, Quận Đống Đa. Y Miếu là nơi thờ các tiên thánh và các vị danh y của đất nước như Tuệ Tĩnh thiền sư và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, cạnh đó còn thờ các danh y của nền y học Cổ truyền. Năm 1834, Y Miếu Thăng Long được trùng tu lớn và rộng hơn. Năm 1953, Hội Y Dược Việt Nam chính thức được Nhà nước giao cho quản lý, Y Miếu lại được trùng tu làm trụ sở của Hội Y Dược Việt Nam. Năm 2000, Thành Phố Hà Nội đã tu sửa lại, Y Miếu được xây gần như hình vuông, 2 lớp nhà 3 gian kiểu tường hồi bít đốc, hướng Đông Nam. Hàng năm, cứ vào ngày rằm tháng giêng (Âm lịch) là ngày Y học Cổ truyền, các thế hệ lương y khắp nơi và nhân dân về đây để dâng hương tưởng niệm, công đức và ôn lại truyền thống nền Y học Cổ truyền Việt Nam. Y Miếu Thăng Long được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia năm 1980.

Thiền sư Tuệ Tĩnh, tục gọi là Nguyễn Bá Tĩnh, pháp hiệu Tráng tử vô vật, sinh năm 1330, tại làng  Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, (nay là tỉnh Hải Dương). Ông được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam. Ông đã nêu cao khẩu hiệu "Nam dược trị Nam nhân". Ông được người đương thời ca ngợi là "Ông thánh thuốc nam". Năm 55 tuổi, ông đi sứ được vua nhà Minh (Trung Quốc) phong hiệu Đại Y Thiền Sư, sau ông mất ở Giang Nam - Trung Quốc. Ông thu thập các bài thuốc dân gian, các vị thuốc nam và viết sách truyền bá y học. Các bộ sách “Nam Dược thần hiệu” (gồm 11 quyển, trong đó nêu 580 vị thuốc nam, 3.873 phương thuốc dân tộc và cách điều trị 184 loại bệnh trong 10 khoa lâm sàng) và “Hồng Nghĩa giác tự y thư” (đề cập đến lý luận Đông y và quá trình biện chứng luận của Đông y) của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học Việt Nam. Tuệ Tĩnh đã từng sử dụng 74 ngôi chùa làm nơi chữa bệnh cho nhân dân.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý (1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Ông mất ngày 15 tháng Giêng năm Tân Hợi (1791). Ở thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã kế tục sự nghiệp y học của Thiền sư Tuệ Tĩnh. Ông đã sưu tầm và phát hiện thêm 305 vị thuốc nam, đồng thời tổng hợp thêm 2.854 bài thuốc dân tộc, nghiên cứu và phổ biến cho nhân dân áp dụng, ông còn mở trường dạy thuốc để truyền bá y dược học. Trong những tác phẩm lớn của ông để lại có "Hải Thượng Lãn Ông Y tôn tâm lĩnh", bộ sách gồm 28 tập với 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông.

Ngày nay, trong Y Miếu vẫn còn bức hoành phi, câu đối, vế đối ca ngợi sự nghiệp cao đẹp của hai vị danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh và Hải thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cùng những giá trị của nền y dược dân tộc đã được lưu truyền: "Gốc của đạo y là thuật biến hóa hòa âm dương. Công thành của lương y là biết dụng dược như dụng binh".                                                   

Hoài Nam     

  
Ảnh: Thứ Trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên cùng lãnh đạo các cơ quan, đơn vị của Bộ Y tế dâng hương tại Y miếu Thăng Long

Chuyển lên WebQDY : VHN - PNĐ




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa