Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

HẢI THƯƠNG LÃN ÔNG- MỐI TÌNH CHUNG THUỶ CAO THƯỢNG


Báo Sức khoẻ & Đời sống, Bộ Y tế, số 59 có bài “Ông Làm Biếng” của nhà văn hóa Hữu Ngọc, giới thiệu cuốn tiểu thuyết mới Monsieur le Paresseux của nữ văn sĩ Pháp Yveline Féray viết về cuộc đời của Hải Thượng Lãn Ông, ông tổ ngành Y Việt Nam. Một người thầy thuốc tài ba đức độ như Lãn Ông Lê Hữu Trác, tác giả của bộ Y Tông Tâm Lĩnh gồm 66 cuốn, mặc dù suốt đời tận tuỵ chữa bệnh cho mọi người nhưng chỉ mong sao cho không còn ai mắc phải bệnh tật nữa để mình được làm một “Ông Làm Biếng”, đó chẳng phải là một ước mơ ngàn đời của ngành Y sao?

Tôi không có cuốn Monsieur le Paresseux trong tay nên không biết Yveline Féray “hư cấu” ra sao chuyện tình đầu của Lãn Ông, nhưng trong “Thượng kinh ký sự” (*), tập ký viết năm 1783 của ông đã kể một cách khá chi tiết về mối tình thuỷ chung và nhận hậu đó, nên muốn ghi lại đây cùng với những cảm nghĩ để bạn đọc cùng chia sẻ.

Chuyện như sau:

“Một ngày kia, có hai lão ni đến chỗ tôi ngụ, nói rằng: chùa Huê Cầu đúc chuông lớn, công quả chưa thành, chúng tôi đến đây khuyến hoá”. Thế rồi một lão ni tự giới thiệu mình là trụ trì chùa núi An Tử, còn lão ni kia thì giới thiệu mình là con gái quan tả thừa ty Sơn Nam, quê ở Huê Cầu. “Tôi nghe nói giật mình như tỉnh giấc mơ”, Lãn Ông viết. Sau đó ông tìm cách “hỏi nhỏ một tiểu cô trong bọn tòng hành mới biết đây là người cũ của mình”. Rõ ràng một lão ni tìm đến một quan nhân (lúc này Lãn Ông đang làm quan thầy thuốc ở trong triều) để khuyến hoá mà lại xưng cái “lý lịch cá nhân” của mình ra như thế, phải có lý do gì chứ. Và đúng vậy, chỉ mới nghe qua địa danh Sơn Nam, Huê Cầu thôi, đã đủ làm cho Lãn Ông choáng váng, “giật mình như tỉnh giấc mơ”. Chuyện đúc chuông, khuyến hoá chẳng qua là cái cớ để cho bà có dịp gặp lại ông.

Tưởng tượng coi, lão ni – người tình cũ của Lãn Ông – đã phải trần tình năn nỉ, thuyết phục sư bà ra sao để sư bà động lòng chịu cùng xuống núi một phen. Tuy biết khá rõ rồi, nhưng vốn thận trọng, Lãn Ông mới “trắc nghiệm” lại lần nữa, vì biết đâu chỉ là một sự tình cờ, ông bèn kể rõ họ tên quê quán… “Lúc đó chỉ thấy ni cô chùa Huê Cầu mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng, bảo sư bà trụ trì rằng: Thôi, chúng ta đi đi thôi”. Một lão ni nghiêm trang cẩn mật, tuổi tác già nua mà “mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng” rồi phải hối thúc sư bà “đi đi thôi” trong một tâm trạng như là dỗi hờn thì thật là đáng kinh ngạc. Lãn Ông rất lúng túng, tìm cách “lưu họ lại không được, mới mang ra một ít hương tiền để cúng” rồi hỏi: “Hai lão ni trọ tại nơi nào?”. Họ đáp: “Chưa có nơi nào”, rồi vội vàng từ biệt ra đi. Lãn Ông đâu dễ chịu ngồi yên, ông “vội gọi một tên người nhà linh lợi bảo đi theo sau họ, mà không cho họ biết…”.

Thế rồi Lãn Ông nhớ lại mối tình xưa. Lỗi tại ông. Ông đã nộp đủ lễ vấn danh, lễ nạp thái, vậy mà rồi vì một lý do riêng, ông hồi cư về Hương Sơn quê mẹ và xa luôn người vợ sắp cưới của mình để bà phải mỏi mòn trông đợi đến hôm nay mới bất ngờ gặp lại.

Rồi người thiếu phụ đó ra sao? Lãn Ông có dọ hỏi thì biết bà “thề chung thân ở vậy”. Nhiều người đi hỏi cưới, bà cương quyết từ chối. Sau cùng, bà vào chùa tu. Lãn Ông viết tiếp “Tôi nghe biết vậy thì tâm thần kinh loạn, than rằng: Vì ta bất cẩn trong việc này. Có thuỷ mà không có chung, khiến cho người mang hận, mà ta mang tiếng là người bạc bẽo. Ta bối rối không biết cách nào để gỡ cái mối ra, mới vội vàng đến Huê Cầu mà tìm hiểu sự việc”. Quả thật, bà đã từ hôn nhiều người chỉ vì lòng bà chỉ có Lãn Ông thôi.Bà thà đi tu chớ không lấy ai khác nữa!

Bà nói: “Đã có người hỏi mình làm vợ thì mình (coi như) đã có chồng rồi, chẳng qua vô phận mà chồng bỏ…”. Trách chi Lãn Ông không tan nát cõi lòng, “tâm thần kinh loạn”. Để chuộc lỗi mình, ông xin bà cho ông được coi bà như “cô em gái nhỏ”, bảo dưỡng bà suốt đời từ đây. Vì bà đã đi tu nên ông đề nghị cất cho bà cái chùa nhỏ, trong một cảnh vườn vằng vẻ yên tĩnh: “Mùa đông cũng như mùa hè, lạnh ấm đều sẽ do ta lo liệu, một là để báo ân, hai là để chuộc lỗi…”. Bà cố cầm giọt lệ: “Quan nhân có hậu tình, còn tôi chẳng gặp chồng, cái thân cô khổ cũng là do số mệnh vậy, đâu có dám trách ai… Nay tôi được biết tấm lòng tốt này cũng an ủi cảnh linh lạc vậy”. Và bà đã từ chối. Và Lãn Ông làm thơ. Phải, bởi vì đâu có thứ thuốc nào sắc ba chén còn bảy phân mà chữa được cái bệnh của ông bây giờ! Ông viết: “Tôi lấy làm thương tình, mới giải lòng trong một bài thơ như sau:

Vô tâm sự xuất ngộ nhân đa,

Kim nhật tương khan khổ tự ta.

Nhất tiếu tình đa lưu lãnh lệ,

Song mâu xuân tận kiến hình hoa.

Thử sinh nguyện tác can huynh muội,

Tái thế ứng đồ tốn thất gia.

Ngã bất phụ nhân nhân phụ ngã,

Túng nhiên như thứ nại chi hà?”

Mà Ngô Tất Tố đã chuyển dịch:

Vô tâm nên nỗi luỵ người ta

Trông mặt nhau đây luống xót xa

Gượng cười khôn giấu đôi hàng lệ

Tóc bạc che mờ nửa mặt hoa

Kiếp này hãy kết làm huynh muội

Kiếp khác xin hoàn nghĩa thất gia

Ai nỡ phụ ai, ai nỡ phụ

Dở dang, dang dở biết ru mà?

Cảm động vì bài thơ “giải lòng” đó mà bà đã tha thứ cho ông. Lãn Ông viết: “Từ đó thời thường qua lại hỏi thăm nhau”.

Chuyện rồi kết thúc ra sao?

Tuổi hạc ngày càng cao, bà chỉ xin ông mua gỗ ở Nghệ An đóng cho bà một cổ quan tài. Vâng, phải đúng gỗ ở Nghệ An bà mới chịu, vì đây là vùng Hương Sơn quê mẹ Lãn Ông (Lãn Ông quê gốc Hải Dương, nhưng sống và thành danh ở Hương Sơn). Có lẽ bà nghĩ lúc sống đã không được nên duyên vợ chồng thì lúc chết ít ra cũng được âu yếm nằm trong một cổ quan tài do ông đóng cho bà từ thứ gỗ của quê hương ông.

Đó, chuyện tình của Lãn Ông, “Ông Làm Biếng” làng Hải Thượng, một chuyện tình thuỷ chung, nhân hậu của một thầy thuốc, ông Tổ của ngành Y, làm ta thấy càng gần gũi với ông hơn, càng quý trọng ông hơn.

Chú thích:
(*) Hải Thượng Lãn Ông. Thượng Kinh Ký Sự
NXB Văn học, 1993. Bản dịch của Ứng Nhạc Vũ Văn Đình

Tác Giả: Đỗ Hồng Ngọc

1.     Pham duy Hung

20/01/2012 lúc 4:09 sáng

Kinh thua Bac si, Toi la mot nguoi it hoc, kien thuc kem, nhung rat yeu tho. Toi o ngoai o thanh pho Chicago, illinois, rat it co dip doc bao Vietnam. Thang 12 -11 vua qua, vo toi dem ve to nguyet san Dien- Dan, va trong do toi co dip xem bai ve Hai -Thuong Lan- Ong. Cau chuyen rat hay ! Bai tho that tuyet- hao ! Tuy nhien cau thu 7 thi 100% SAI ! Lan- Ong da phu nguoi dan ba do, thi lam sao ong ta co the noi rang “Nga BAT phu nhan, Nhan phu nga” va do thua nguoc lai cho ba ni co duoc ? No phai la “Nga nhat phu nhan, nhan bat phu” thi moi hop ly ! Cau tho hay nhat trong bai nay la cau 3. “Nhat tieu tinh da, luu lanh le”. Cau nay ta canh 2 nguoi gap lai nhau trong canh eo le. Lan Ong thi e then vi loi lam cua minh nen then cuoi ben len (doc tieu). Nhung tinh cam cua ca 2 nguoi deu cung 1 luc tro lai nhu ngay truoc (tinh da). Con rieng ni co thi ngoai tinh yeu rieng tro lai, su dau kho CU cung da tro lai don dap (luu lanh le). (Ni co o khoc, vi khoc luc do se la “le nong”.) Toi nhan xet 2 bai dich cua Ngo tat To va Bui hanh Can khong dien ta trung thuc duoc bai tho cua Lan Ong ! Neu Bac Si cho phep toi xin tam dich bai tho lai nhu sau:
Vo tam nen noi luy nguoi ta,
Kho canh nay, minh tai chinh la !
Doc nhoen tinh day , vuong le cu,
Doi trong xuan man, tham hinh hoa !
Doi nay nguuyen ket lam huynh de ,
Kiep ke the tron nghia that gia !
Ta lo phu nguoi, nguoi chang phu, (ta chang phu nguoi, nguoi no phu)
Thoi thoi lo vay, trach chi ma ?
Bach Van Lang Tu

2.     Bac Si Do Hong Ngoc

20/01/2012 lúc 9:18 sáng

Cam on anh Pham Duy Hung. Cau “Nga bat phu nhan nhan phu nga” co the la cau than tho cua Lan Ong khi “de xuat” voi ba du cach de “chuoc” lai loi lam ( nao xay chua, nao cung cap am lanh tron doi cho ba) nhung ba quyet liet tu choi! Co le “phu” la “phu” cho do thoi! Ong co long tot ma ba no “phu” ong, khong them nhan bat cu de nghi nao cua ong. Di nhien, sau cung, ba cung co… nhan. Va hai nguoi da lien lac voi nhau, “tam dau y hop”!
Nhan xet cua anh rat tinh te.
Da ta!
DHN  Chuyển lên WebQDY : VHN - PN Đ




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa