Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Bài học kinh nghiệm về cứu viện y học trong trận động đất cực lớn tại huyện Văn Xuyên , tỉnh Tứ Xuyên ,Trung Quốc và những kiến nghị phát triển


Bản dịch bài báo thứ nhất

 

 

Vương Chính Quốc , Trương Liên Dương    

 

Nguồn: Tạp chí y học quân giải phóng Trung Quốc số 34(2)năm 2009, tải lên mạng theo địa chỉ web site http://www.jfjyxzz.org.cn/Articles/Show.aspx?Id=79#

 

Phạm Văn Hựu dịch qua bản Trung văn trên mạng

 

( Chú ý: chữ in nghiêng là chú thích của người dịch)

 

 

Ngày 12 tháng 5 năm 2008 tại huyện Văn Xuyên, tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc đã xẩy ra trận động đất cực lớn , có sức mạnh 8.0 thang độ Richter (theo quy định thì 8.0 – 8.09 thang đ Richter là thang độ cực mạnh, có sức tàn phá vô cùng quan trọng trên những diện tích lớn trong chu vi hàng trăm km bán kính),với 4 571 vạn nạn nhân (45 triệu 710 nghìn người) với gần 90 vạn người tử vong hoặc mất tích, gây ra một tổn thất rất lớn về sinh mệnh người và tài sản. Đã có vài chục nghìn chi đội điều trị đến cứu viện tại đây với một cống hiến rất to lớn (cứu viện có nghĩa ngoài cứu sống mạng người còn phài chi viện toàn bộ nhu cầu cuộc sống cho nạn nhân vì động đất đã hủy hoại, xáo trộn mọi nhu cầu cuộc sống kể cả không khí và nước uống ).

 

Bài viết này căn cứ vào báo cáo điều tra nghiên cứu tại chỗ qua mấy lần của Hội chấn thương thuộc Tổng hội y học Trung hoa cùng những văn kiện các hội nghi giao lưu trong nước và một số văn kiện đã công bố tổng kết những bài học kinh nghiệm chủ yếu về công tác cứu viện trận động đất lớn Tứ Xuyên và đề xuất một số kiến nghị phát triển về công tác cứu viện  trong y học thảm họa nước ta.

 

1.- Tóm tắt tình hình cứu viện y học trận động đất cực lớn Văn Xuyên.

 

Cho đến ngày 31 tháng 5 năm 2008 công tác cứu viện đã cứu sống được 6 375 người từ đống đổ nát trong động đất, đã có trên 9 vạn người phải nhập viện trong đó trọng thương là 16 536 người, có 2 490 người tử vong tại bệnh viện trong đó nam giới là 43,37%, nữ giới là 56,22%, không rõ nam nữ là 0,41%. Sau  khi xẩy ra động đất, đã thành lập một hệ thống chuyển thương quy mô cực lớn, đã chuyển ra khỏi khu vực nguy hiểm 10 015 người với 21 lần di chuyển ( chuyển vận  5 053 người), 91 chuyến máy bay ( chuyển vận  3 495 người) và  trên 10 000 lần xe cứu thương  (chuyển  vận   1 467 người [1]. Đã phân loại những người bị thương (NBT) thuộc 39 thành, thị của 20 tỉnh. được   375 bệnh viện tại nhà ( gia y viện) của 39 thành, thị thuộc 20 tỉnh tiếp nhận .

 

2.- Những bài học kinh nghiệm chủ yếu về trận động đất cực lớn Văn Xuyên.

 

2.1.Tác dụng cứu viện y học ban đầu của lực lượng điều trị khu vực động đất.

Động đất đã khiến vài chục vạn NBT. Vấn đề trong yếu nhất trong cứu chữa NBT là tính thời hiệu (thời gian cứu sống mạng người có hiệu lực). Các đơn vị điều trị trong khu vực động đất trong những ngày đầu cũng khống thấy hết được tầm quan trọng và xác định được nhiệm vụ cứu viện y học thời gian đầu động đất. Căn cứ thống kê chưa đầy đủ, trong 72 giờ sau thảm họa tất cả mọi con đường đều bị cắt đứt không thông trong tinh hình lực lượng cứu viện bên ngoài khu vực động đất chưa thể nào tới được. Tuy các nguồn lực y tế tài chỗ đã bị tổn thương nghiêm trọng, nhưng các nhân viên y vụ khu động đất đã nhanh chóng đến cấp cứu NBT tại ngay hiện trường. Lực lượng của các huyện Văn Xuyên , Thanh Xuyên, Mậu Huyện , Lý Huyện và Bình Vũ đã lần lượt cứu được 720 – 9800 NBT. Đưa vào viện cứu chữa khoảng 890 NBT. Bệnh viện 5200 quân giải phóng tại Cẩm Dương sau động đất 5 phút đã bắt đầu cứu chữa NBT. Ngay trong ngày động đất đã cứu chữa 380 NBT, thực hiện gần 200 ca phẫu thuật. Tổng y viện tại Thành Đô Bắc Đại Môn 7 phút sau động đất đã thu nhận NBT đầu tiên, đến chiều cùng ngày đã thu dung trên 1 000 NBT. Bệnh viện Hoa Tây thuộc trường Đại học Tứ Xuyên trong 21 ngày sau động đất đã tiếp nhận cứu chữa 2 618 NBT, nhập viện 1 571 ca trong đó có 1 135 NBT rất trầm trọng, ICU thu nhận điều trị 127 ca ( nguyên bản dùng chữ tắt Anh ng nhiều lần không chú giải, người dịch  để nguyên không dịch, chỉ chú thích một lần . ICU là viết tắt Intensive Care Unit - Pháp ngữ là Unité de soins intensifs  được hiểu là phòng / đơn vị điều trị tăng cường / phòng cứu chữa bệnh nặng  có tăng cường  các kỹ thuật cần thiết ),  mổ 1 239 ca , truyền máu 77 ca [2].

2.2.Việc phân chia sử trí cấp cứu điều trị trọng điểm tại khu động đất là động thái thay đổi hàng ngày [3]. Đường vào vùng núi huyện Văn Xuyên đã bị xáo lộn, vận chuyển đình trệ. Thời gian đưa NBT đến các đơn vị điều trị có liên quan chặt chẽ  với việc khôi phục giao thông. Đường cao tốc một số nơi như Đức Dương, Cẩm Trạch bị ảnh hưởng động đất nên sau địa chấn một ngày, một bệnh viện tại Đức Dương mới thu dung được 1 000 NBT, hai ngày sau động đất, tại bệnh viện Hoa Tây số NBT đã nhanh chóng tăng cao.. Tóm lại sau động đất việc đưa NBT đến bệnh viện là không cùng lúc, lượng NBT về đến viện cũng không cùng chung đặc điểm.

 Một ngày sau động đất được coi là giai đoạn đầu, ít sử lý cấp cứu điều tri được tại hiện trường, trình độ ô nhiễm tại miệng vết thương tương đối nhẹ. vết thương sọ não, ngực bụng tương đối cao. NBT có chấn thương sọ não tại động đất Văn Xuyên phải nằm viện là 10 – 18,3% [4] thấp hơn tỷ lệ thường thấy trong động đất nói chung là 15 – 40%. [5]. Tổng y viện Thành Đô trong 12 giờ sau,  tiếp nhận 76 NBT sọ não [6].

Trọng điểm cấp cứu điều trị là việc phân loại NBT. nhằm xử trí khẩn cấp khống chế những nguy cơ đe dọa tính mệnh và xử lý làm sạch vết thương. Then chốt của việc phân loại có hiệu quả NBT, là cần có một không gian phân loại cần thiết và kinh nghiệm phân loại phong phú. Phần lớn các bệnh viện đều dựa vào phòng khám cấp cứu của bệnh viện và  những khoảng rộng, trống trong bệnh viện làm nơi phân loại, đã bảo đảm việc cấp cứu điều trị có được tính chất chữa trị và tính hiệu lực.

‚-  Sau động đất 2 – 14 ngày được coi là giai đoạn 2, số NBT được sơ bộ cấp cứu điều trị tại hiện trường tăng cao do vận chuyển đường không và các đội vận chuyên chuyên nghiệp thực hiện. Sau động đất 4 ngày bắt đầu vận chuyển NBT ra ngoài địa phận tỉnh Tứ Xuyên. Tình trạng chung là có một số NBT  trầm trọng , vết thương ô nhiễm tương đối nặng. Trọng điểm cứu chữa là tiến hành phẫu thuật kỳ đầu (sớm), đề phòng nhiễm khuẩn, duy trì sinh mệnh cho NBT nặng và phẫu thuật kỳ hai cho NBT  gãy xương, với NBT có triệu chứng sinh mệnh ổn định có vết thương mở , thì trước hết sử trí vết thương, lấy bỏ dị vật. Nếu phát hiên NBT có nhiễm khuẩn Gram dương tính, cần chuyển vào khoa cách ly của bệnh viện, thực hiện các phẫu thuật trong phòng mổ đặc biệt , nhằm cách ly dự phòng là cách làm có hiệu quả đề phòng hoại thư sinh hơi . Bệnh viện Hoa Tây đã thực hiện quy chế khống chế tai biến cho NBT, lấy ICU và các y sinh của ICU  định kỳ tuần tra các buồng bệnh chuyên khoa nếu thấy có những triệu chứng đe dọa sinh mệnh NBT. Với NBT đã ổn định thì chuyển đến ICU để tăng cường theo rõi, giám sát. Với NBT có triệu chứng không ổn định về sinh mệnh cũng kịp thời chuyển đến ICU để tăng cường  giám sát, bảo hộ  là biện pháp cần thiết làm giảm tỷ lệ tử vong [2].

ƒ- Sau động đất 14 ngày là giai đoạn 3, NBT nằm viện chủ yếu là NBT trước hoặc sau phẩu thuật kỳ đầu có phát sinh biến chứng hoặc rối loạn chức năng nội tạng. Trọng điểm cứu chữa là khống chế không để lây nhiễm chéo trong bệnh viện, sử lý các biến chứng và duy trì sinh mệnh cho NBT.

2.3. Việc hợp tác cứu chữa nhiều khoa lâm sàng, theo thống kê chưa đầy đủ, NBT có nhiều thương tích phải nằm viện trong trận động đất Văn Xuyên chiếm 23 – 42%. Với NBT vào viện sau 48 giờ tính chung  có trên 20% có vết thương sọ não, ngực  bụng. NBT nặng có mất máu, bị sốc và có nhiễm khuẩn thứ phát thường có các triệu chứng hậu kỳ như rối lọan huyết áp, hội chứng MODS, các rối loạn chấn động về tâm lý, các trường hợp này đều phải coi là NBT có

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


hương  rất nặng

 

 

 

tổn thương rất nặng, cần có phối hợp điều trị của các khoa lâm sàng. Trong những tình hình này cần có sự hợp tác của nhiều khoa : khoa chấn thương xương, khoa nội thận, các khoa vệ sinh tâm lý …,để tránh chẩn đoán sót, chẩn đoán sai. Khoa nội thận bệnh viện Hoa Tây, ICU, khoa chấn thương xương, khoa ngoại tiết niệu, khoa y học thực nghiệm, trung tâm chẩn đoán bệnh và trung tâm chẩn đoán điều trị thận nhân tạo cấp tính đã hợp tác điều trị hướng dẫn cách truyền máu, truyền dịch cho NBT. Việc cứu chữa vết thương và các biến chứng phức hợp trong trận động đất này là truyền máu, tăng cường truyền dich lâm sàng. Trường Đại học quân y 3 đã thành lập một tổ chuyên gia 10 người, tổ chức thành 3 đội tuần chẩn ( rà soát việc chẩn đoán luân phiên nhằm không để sai sót) cho NBT, coi trọng việc điều trị dự phòng tâm lý cho NBT, tăng cường cứu chữa trọng thương, nâng cao hiệu quả điều trị cho NBT.

2.4.- Các lực lượng của nhiều bệnh viện khác nhau đã hợp lực cứu viện tại khu xẩy ra thảm họa với 5 vạn nhân viên y tế làm nhiệm vụ , trong đó nhân viên y vụ từ các tỉnh khác trong cả nước đến là 5 969 người, nhân viên y vụ quân đội là 3 048 người, của các đội điều trị nước ngoài và của địa khu là 244, nhân viên y vụ các cơ quan các cấp nội tỉnh Tứ Xuyên là 41 240 người. Lực lượng cứu viện bên ngoài và nguồn nhân vật lực của khu thảm họa, căn cứ vào các tình huống khác nhau, đã hợp tác theo nhiều cơ chế, chủ yếu bao gồm :

- Thay thế bổ sung tổn thất nhân vật lực cho các đội điều trị tại chỗ cho đến khi các đơn vị này phát huy được hoạt động như trường hợp bệnh viện Đại Bình thuộc trường Đại học quân y 3 và đội điều trị của bệnh viện Tây Nam ngoài việc lo cứu chữa NBT khu động đất còn đảm nhiệm công việc thường xuyên hàng ngày như đỡ đẻ, mổ sản khoa…

‚-Hoạt động cứu viện của các đội điều trị  có nhiều cách như là  đội điều trị của bệnh viện Đại Bình sau khi đến bệnh viện Đức Dương  đã làm việc theo phương thức quản lý tương tự như hoạt động quân sự hóa công tác cứu viện, chủ yếu là công tác phân loại NBT, sắp xếp công việc phẫu thuất, quản lý NBT …, cách làm này đã nâng cao được hiệu xuất cứu viện.

ƒ- Đội điều trị đến cứu viện cùng họat động song song với nguồn lực điều trị tại chỗ. Đó là trường hợp nhân viên y sinh, hộ lý của bệnh viện Tây An kết hợp với các khoa lâm sàng tương ứng, phụ trách khu bệnh hoặc thành một tổ chức cùng thực hiện công tác cứu chữa.: hai bệnh phòng giao cho đội điều trị Cát Lâm quản lý, một bệnh phòng giao cho đội điều trị Hương Cảng quản lý, một bệnh phòng giao cho đội điều trị Thiên Tân quản lý. Phướng án điều trị  cho NBT do đội điều trị bên ngoài đến cứu viện quyết định. Nhân viên bệnh viện Hoa Tây quản lý bệnh nhân thường ngày, điều hòa công  tác phẫu thuật và bảo đảm hậu cần. Bước đầu các đội điều trị từ bên ngoài đến cứu viện đã nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, triển khai công việc được thuận lợi. Các nguồn lưc được bổ sung kịp thời , sử dụng hợp lý không lãng phí, nâng cao được hiệu xuất công tác.. 117 người thuộc các đội cứu viện đến từ bên ngoài, 78 người thuộc khoa chấn thương xương đã hoàn thành xuất sắc quản lý 8 bệnh phòng chấn thương xương, thu dung điều tri NBT, thực hiện 653 phẫu thuật cấp cứu [2].

„-Đã chỉ đạo các đội điều trị, thực hiện các cuộc hội chẩn cùng với công tác cứu viện trước những vết thương nhiễm khuẩn phức hợp cần có cứu chữa liên kết nhiều khoa do các chuyên gia có tiếng đảm nhiệm,  nên đã phát huy tác dụng tương đối tốt.

2.5. Lực lượng cứu viện quân đội đã phát huy tác dung quan trọng. Trong cứu viện y tế tại động đất Văn Xuyên, lực lượng Cục quân y Tổng Cục Hậu Cần Trung Quốc ngoài việc tìm kiếm cấp cứu, chuyển thương, cứu chữa khẩn cấp và điều trị chuyên khoa…ngoài việc phát huy tác dụng quan trọng nhiều  mặt , phát huy được ưu thế của ngoại khoa dã chiến , còn phát huy tác dụng nòng cốt trên các mặt sau đây :

*Khi triển khai cứu chữa kỳ đầu đã có các đội điều trị phản ứng nhanh, chủ động tác nghiệp. Phần trên có nói đến Tổng y viện Thành Đô, bệnh viện 520 quân giải phóng tại Cẩm Dương đều chỉ vài phút sau động đất đã triển khai ngay được công tác cứu viện. 6 giờ 20 phút ngày 13 tháng 5 , Đội điều trị 1 của Trường Đai học quân y 3 đã đến được Đức Dương triển khai công tác cứu viện và là đội điều tri thứ nhất ngoài tỉnh đến được khu vực thảm họa.

‚- Các đội điều trị dã chiến hoặc các bệnh viện dã chiến đã đến được khu vực thảm họa thực hiện cứu viện y tế. Do có phướng án dự kiến đầy đủ, được huấn luyện tốt, có trang bị hoàn chỉnh, các đơn vị này có đủ khả năng tự lực công tác, triển khai công việc thuận lợi.

ƒ- Việc phân loại NBT, việc cứu chữa theo quy phạm ( quy định phạm vi cụ thể), là tiền đề cho việc cứu chữa có kết quả [8 , 9] . Trong 3 – 12 giờ sau động đất một bệnh viện của Đức  Dương đã thu dung gần 500 NBT. Đội điều trị Đại học quân y 3 sau khi đến được khu vực thảm họa, đã dùng phương pháp đánh dấu bằng các giải băng ngũ sắc làm ký hiệu thương tiêu

 ( dấu hiệu mức độ thương tích) cùng với kinh nghiệm thu dung phong phú  đã thực hiện được cứu viện cho gần 1 000 NBT  trong 4 giờ đầu, thực hiện được trật tự quy phạm cứu chữa, bảo đảm cứu chữa có hiệu quả và trật tự.

„- Phân cấp cứu chữa, chủ động chuyển thương.- Phân cấp cứu chữa là nguyên tắc quan trọng của ngoại khoa dã chiến và ngoại khoa chấn thương, các cơ sở điều trị trong khu động đất và khu vực kế cận đều bị tổn thất ít nhiều nghiêm trọng, lại đối mặt với số lượng lớn NBT, do thời gian và không gian và các điều kiện cứu chữa đều có hạn, cần có thời gian và không gian để khắc phục. Vì vậy cần tận dụng khoảng thời gian có hạn để tranh thủ có không gian lớn hơn, hoặc dùng càng nhiều không gian rộng lớn để tranh thủ cứu chữa không bị gián đoạn về thời gian. Đó là thực hiện sách lược phân cấp cứu chữa [11]. Trong động đất lần này đội điều trị thuộc Đại học quân y 3 trên cơ sở của quy phạm phân cấp cứu chữa nên ngày 16 tháng 5  là đơn vị đầu tiên chuyển được 64 NBT ra ngoài tỉnh, là một ví dụ sinh động cho việc chuyển thương từ khu vực thảm  họa ra phạm vi cả nước

 

3.- Bài học chủ yếu về cứu viện y học qua trận động đất cực lớn tại Văn Xuyên.

 

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc cứu viện y học. Nhân tố khách quan nhìn chung là : tình hình tai họa nghiêm trọng, khí hậu ác nghiệt, giao thông gián đoạn, thông tin nghẽn tắc, các cơ quan và cơ sở điều trị bị xáo trộn…Tuy nhiên vẫn có nhiều bài học cần tổng kết :

3.1.-Vấn đề chủ yếu cứu chữa tại hiện trường.- Nguyên nhân tử vong chủ yếu là do ngạt thở, bị thương do vùi lấp, vết thương sọ não, hàm mặt… và sốc do cung lượng máu hạ thấp. Cứu chữa tại hiện trường trong động đất tại Văn Xuyên có các hình thức : tự cứu, cứu lẫn nhau và cứu viện chuyên nghiệp. Vấn đề bao quát gồm có :

 Với các thương tích đặc thù còn thiếu hiểu biết và kinh nghiệm cứu chữa, Tại hiện trường động đất lần này có nhiều trường hợp NBT sau khi được giải cứu khỏi đống đổ nát đã tử vong kỳ sớm, có khả năng là do cơ thể bị vùi lấp khiến các tổ chức thiếu máu lại có liên quan đến việc truyền dịch ,có thể dẫn đến sốc do cung lượng máu hạ thấp, chứng tăng cao kali máu (hyperkalemia) hoặc những độc tố khác nhanh chóng tràn vào máu [13}. Đối với người bị vùi lấp thời gian dài không được giải cứu kịp thời, trước khi được đưa ra khỏi đống vùi lấp đã có chi thể tổn thương gián đoạn, hoặc trước khi đặt giây cầm máu  và băng bó vết thương với chi thể không còn khả năng bảo tồn và không còn khả năng khôi phục cung lượng máu.( Đây là hội chứng Crush-Crush syndrome- còn gọi là Bywater syndrome - hội chứng Bywater ta gọi là hội chứng tổn thương do vùi lấp. Là hội chứng của NBT trên một phạm vi rộng lớn cơ, phần mềm bị tổn hại do đè nén, áp lực của vùi lấp. Do tổ chức bị hoại tử và từ tổ chức bị hoại tử tiết ra cơ hồng tố ( myoglobin ) ,albumin, kali…là những chất độc thấm vào hệ tuần hoàn máu, gây  sốc khiến  động lực máu không ổn định, làm tăng kali máu, gây ra chuyển hóa toan tăng cao trong máu nếu có kết hợp vết thương vùng bụng chậu thì tỷ lệ tử vong càng cao.)

‚-Thiếu phương tiện và dụng cụ giải cứu tại hiện trường.  Với NBT đầu ngực được giải cứu

chậm  không kịp thời đặt ống thông nội khí quản khiến một bộ phận NBT đã chết 30 – 60 phút sau khi được giải cứu.

ƒ-Vi phạm thường quy thao tác khám chữa, trong điều kiện vệ sinh bị phá hủy và thiếu thốn nghiêm trọng vật tư y tế , các thủ thuật ngoại khoa, tiêm chích, đặt ống thở, ống nuôi đều làm mò mẫm, phải sử dụng vật tư y tế không đủ tiêu chuẩn khoa học nên tỷ lệ ô nhiễm cao, nhiễm khuẩn nặng nề khiến cho việc cứu chữa kỳ sau gặp nhiều khó khăn.

„-Thời gian cứu chữa y học kỳ đầu phổ biến là chậm, gẫy nát chi thể  tại hiện trường là cao.

…-Chuyển thương tại hiện trường.-Do tình hình thương vong nghiêm trọng, thiếu xử lý cứu chữa tại hiện trường và thiếu nhân viên cứu hộ hậu tống nên số chết trên đường vận chuyển tương đương với số tử vong tại chỗ. Việc hậu tống NBT chưa hoàn toàn thực hiện được theo trình độ nặng nhẹ của NBT. Chuyển thương cũng thiếu sự chỉ huy thống nhất nên đã chuyển nhiều NBT nhẹ , khiến nhiều NBT nặng không được chuyển kịp thời.

3.2.-Những vấn đề chủ yếu về cứu chữa khẩn cấp và cứu chữa kỳ đầu- Động đất tại Văn Xuyên có cường độ cao, các công trình xây dựng sụp đổ nghiêm trọng. Các đơn vị điều trị tại khu vực động đất đã bị tác động ít nhiều nghiêm trọng với mức độ không giống nhau, đều có ảnh hưởng  đến tình hinh cứu chữa khẩn cấp và cứu chữa kỳ đầu.

-Thiếu vật tư y tế nhất là tại một số bệnh viện thành, thị thiếu ý thức dự trữ vật tư y tế. Còn tại một số bệnh viện, vật tư y tế lại do công ty y dược địa phương cung cấp theo mức tiêu hao sử dụng nên đã thiếu những thứ thông thường nhất nhưng cũng quan trọng nhất như  nước vô trùng, găng tay, bông băng phù liệu…

‚-Thiếu kế hoạch dự phòng cứu chữa NBT với số lượng lớn, hoặc thời bình ít quan tâm đến việc huấn luyện, phân loại kiểm tra vết thương nên không thể ứng phó trước tình hình phải đối mặt cùng lúc cứu chữa cho vài chục NBT.

ƒ- Không tuân thủ thường quy cứu chữa, không tuân theo sách lược phân loại cứu chữa, cứu chữa vượt phạm vi như việc thực hiện mổ sớm đối với vết thương gãy xương kín. Hậu quả là làm tiêu hao một số vật tư y tế có hạn, hoặc hạ thấp tiêu chuẩn thao tác chẩn đoán điều trị khiến tỷ lệ nhiễm khuẩn trên 68,8% tại miệng vết thương.

3.3.Những vấn đề chính trong bảo đảm quân y.-

Sau khi phát sinh thảm họa , các đội điều trị trong cả nước đã nhanh chóng đến ứng cứu khu vưc động đất, nhưng vẫn còn nhiều bộ môn, nhiều đơn vị, nhiều tổ chức quản lý chỉ huy còn trong tình trạng phân tán, việc điều hành, quản lý chỉ huy thiếu hẳn tính thống nhất, rõ ràng, mối quan hệ giữa địa phương và quân đội không rõ, thiếu thông suốt hiệp đồng nhịp nhàng, khiến hiệu quả và năng lực cứu viện không phát huy được cao nhất, việc chấp hành mệnh lệnh và sử lý thông tin không thống nhất.

‚-Lực lượng cứu viện sinh mệnh tại hiện trường lẽ ra cần được đột nhập trước, nhưng lực lượng cứu chữa chuyên khoa ( bao gồm phần lớn những tổ chức chuyên gia nổi tiếng ) khi tập trung đến khu vực động đất lai chịu tác động của dư chấn, thiếu nguồn năng lượng nên các thiết bị kiểm tra chẩn đoán y học không phát huy được tác dụng, các điều kiện cứu chữa chuyên khoa tại chỗ cần thiết đều bị hạn chế…, tình hình đó khiến các khoa ngoại thần kinh, ngoại bụng ngực, ngoại tiết niệu…tại hiện trường đều hạn chế tác dụng, đều lả “ anh hùng không có sức dụng võ “.

ƒ-Trang bị và huấn luyện cho bản thân lực lượng cứu viện là không đủ.- Một số đội điều trị chuẩn bị không đủ vật tư y tế nên khi đến khu vực thảm họa thì thiếu phương tiện, dụng cụ, vật tư y tế , thuốc men nên không thể tiến  hành việc cứu chữa có hiệu quả. Không căn cứ vào quy luật phát sinh trong khu vực thảm họa nên không chủ động chuẩn bị vật tư y tế và đội ngũ nhân viên y vụ. Một số thiết bị phương tiện y tế không dễ triển khai tại khu động đất nên không phát huy được tác dụng.Thậm chí một số đội điều trị  không chuẩn bị đủ cơ sở vật chất sống còn cho bản thân mình ( thức ăn, nước, màn, chiếu…), khiên bản thân đơn vị lại trở thành đối tượng cần cứu giúp.

„-NBT chuyển ra ngoài tỉnh trong quá trình này có một số ít bị tử vong, một số NBT được chuyển đến những khu vực, tương đối xa, bệnh viện huyện nếu cần tiếp chuyển NBT thì không biết chuyển đi đâu…NBT chưa được làm các giấy tờ hoàn chỉnh về quá trình cứu chữa ( các tư liệu về bệnh án và tư liệu hình ảnh ) đã gây khó khăn cho việc điều trị tiếp theo.

4.-Những kiến nghị nâng cao trình độ cứu viện thảm họa thiên nhiên của nước ta ( Trung Quốc.)- Nhìn lại một cách hệ thống công tác cứu viện thảm họa thiên nhiên của nước ta so với các nước và khu vực phát triển thấy có một khoảng cách khá lớn, cần được xây dựng thành thể chế, định ra quy tắc, phạm vi về nhân viên, huấn luyện, nghiên cứu và phát triển các khí tài, chuẩn bị vật tư…các mặt , và cần đẩy nhanh tốc độ phát triển, bao gồm :

-Kiện toàn nền y học thảm họa quốc gia, hệ thống cấp cứu chi viện, lực lượng cứu chữa tại hiện trường, các trung tâm cứu chữa khu vực, thành ,thị và cơ cấu tổ chức cứu chữa tại hậu phương. Khi có sự biến phát sinh đột ngột có thể thống nhất chỉ huy, rút ngắn thời gian ứng cứu, đề cao việc cứu chữa tại hiện trường và khả năng chuyển vận NBT, cần nghĩ tới khi có thảm họa đặc biệt nghiêm trọng xẩy ra thì thiết lập chế độ quân quản hoặc cơ chế chuyên chế nhân dân thời chiến.

‚-Hoàn thiện dự án khu vực cứu viện y học trong thảm họa. Căn cứ vao các khu hành chính khác nhau, tình hình thảm họa khác nhau, xác định dự án ứng cứu y học khẩn cấp khi xẩy ra thảm họa, lấy việc chuyển NBT về nơi cần thiết làm mục đích, thực hiện quy phạm ranh giới phạm vi cứu chữa, xác định rõ nhu cầu vật tư y tế, phương án phối trí nhân viên y tế và nhu cầu chi viện , cùng tăng cường huấn luyện kỹ năng y tế trong thời bình.

ƒ-Trong năm học thứ nhất về “ ngoại khoa”, cần có môn học ngoại khoa chấn thương và ngoại kha dã chiến, tăng cường nghiên cứu lý luận và lâm sàng chấn thương, nhanh chóng xây dựng đội ngũ cấp cứu chấn thương, đẩy nhanh việc nghiên cứu khí tài cứu chữa khẩn cấp, nâng cao trình độ cấp cứu đa chấn thương về các khoa chấn thương nặng,  nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu cứu chữa đa chấn thương và các chấn thương nặng với số lượng lớn NBT trong thời bình cũng như thời chiến.

„-Xây dựng hệ thống và cơ chế chuyển thương mang tính toàn quốc, dự án quy phạm chuyển vận, khởi động dự án  chuyển vận, trình tự chỉ huy, xác định tuyển chọn phương tiện chuyển

 thương  cấp tỉnh và cấp khu, chuẩn bị phân phối trang bị vật tư, quy phạm tiêu chuẩn kỹ thuật cho nhân viên cứu hộ, xác định thương phiếu và bệnh án chuyển thương thống nhất cho cả nước.

…-Thành lập căn cứ bồi dưỡng huấn luyện kỹ thuật cứu chữa chấn thương, mở rộng việc học tập lý luận mới về kỹ thuật cứu chữa chấn thương, triển khai giáo dục trong cả nước về phòng bị thảm họa, định kỳ tổ chức sơ tán khẩn cấp , cấp cứu, diễn tập ôn luyện phòng tránh thiên tai, phổ cập kiến thức về động đất, cứu chữa chấn thương, kỹ thuật và tri thức tự cứu và cứu chữa lẫn nhau.[ 15 - 17]

 

[ Tài liệu tham khảo ] [ 1 ] Hách Vỹ - Vương Thiên Binh . Tạp chí Chấn thương Trung Hoa : Báo cáo sơ bộ về kiểm  thương trong quá trình tiếp thu và chuyển thương trận động đất Văn Xuyên về Bắc Kinh 2008, 24 (11.) : 946. [2] Thạch Ứng Khang . Bích Hoàn Tạp chí Chấn thương Trung Hoa : Tác dụng chiến lược của các bệnh viện cấp quốc gia trong động dất Văn Xuyên.-2008, 24 ( 7 ) ; 485 [ 3 ] Bozkurt M. Ocguder A., Turktas U. et al. The evaluation of trauma patients in Turkish Red Crescent Field Hospital following  the Pakistan earthquake in 2005 Injury, 2007 , 38 ( 3 ) 290. [ 4 ]. Tạp chí chấn thương Trung Hoa . Nghĩ lai về việc cứu chữa NBT đầu ngực tại động đất Văn Xuyên. 2008, 24 ( 9 ) ; 753. [ 5 ] Bhatti SH, Admed I, Qureshi NA, et al Head trauma due to earthquake October, 2005 experience of 300 cases at the combined Military Hospital Rawalpindi.J Coll Physicians Surg. Pak. 2008, 18 ( 1 ) : 22 [ 6 ]-Nguyện Kiến Văn, Dương Văn Trù, Trình Kính Dân…Tạp chí Chấn Thương Trung Hoa , Đạc diểm về thời gian, không gian và sách lược cứu chữa vết thương đầu ngưc tại động đất Văn Xuyên, 2008 , 24 ( 9 ) : 760 [ 7 ] . Chu Kế Hồng, Vương Chính Quốc, Hoàng Húc Đông…Tạp chí Chấn thương Trung Hoa , Đặc điểm tinh hình vết thương của NBT động đất 5.12  Văn Xuyên., 2008, 24 ( 7 ), 488 [ 8 ] . Emami MJ. Travakoli AR, Alemzadeh H. et al. Strategies in evaluation oh Bam earthquake victims. Prehosp Disaster Med. 2005 , 20 ( 5 ) 327 [ 9 ] .Lư Thế Bích, Tạp chí y học quân giải phóng – Tính chất quan trọng cũa việc phân cấp xử lý trong cứu chũa NBT tại Văn Xuyên 2008 , 33 ( 8 ) 919 . Diêu Nguyên Chương , Trương Đạt Dương, Trình Hiểu Tân, Tạp chí Chấn thương Trung Hoa. Phân tích và nghiên cứu vết thương trong cứ chữa NBT trong động đất tại khu Đức Dương , Văn Xuyên , 2008, 24. ( 8 ) : 580 [ 12 ], Peek-Asa C, Kraus JF, Bourque LB, et al Fatal and hospitalized injuries resulting from the 1994 Northridge earthquake, Int. Epidemiol. 1998, 27 ( 3 ) 459 [ 13 ]. Gonzale D, Crush syndrome Crit Care Med , 2005 , 33 ( Suppl I ) S34 [ 14 ], Tạp chí Chấn thương Trung Hoa-  La Phi, Vương Tự Toàn, Chu Cường…Bàn về thực hiện nguyên tắc cứu chữa theo bậc thang cứu chữa tại động đất Văn Xuyên 2008 , 24 ( 8 ) 583 [15 ], Tạp chí Chấn thương Trung Hoa , Vương Chính Quốc  , Đặc điểm và kinh nghiệm cứu chữa NBT tại động đất Văn Xuyên, 2008 ,24 ( 6 ) 401 [ 16 ], Tạ chí Chấn thương Trung Hoa , Tưởng Kiến Tân, Vương Chính Quốc, Phó Tiểu Binh…Suy nghĩ và kinh nghiệm cứu chữa NBT tại động đất Văn Xuyên , 2008, 24 ( 8 ) ; 578 [ 17 ] , Tạp chí y học quân giải phóng , Trương Nhạn Linh Suy nghĩ về hành động và chiến lược cứu viện y học tại động đất Văn Xuyên ,  2009 , 34 ( 1 ) ; I .

µ

Vương Chính Quốc . Viện sỹ viện công trình Trung Quốc, chuyên gia nổi tiếng về ngoại khoa dã chiến. 1958 tốt nghiệp đại học y khoa Trung Quốc , một trong những người sáng lập chính ngành chấn thương và chấn thương đạn đạo học (ballistic traumatology), y học giao thông đặc biệt là cơ sở lý luận vết thương chiến tranh và nghiên cứu ứng dụng, đạt được thành quả khoa học quan trọng, được thưởng huân chương “ Tiến bộ khoa học kỹ thuật hạng nhất “ và nhiều huân chương, thưởng chương khác. Đã công bố trên 220 công trình khoa hoc, chủ biên 29 bộ sách chuyên khảo, là một trong những người đứng đầu học thuật trọng điểm ngoại khoa dã chiến quốc gia, là người hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sỹ số 1 và giáo sư hướng dẫn khoa học bậc tiến sỹ, đã bồi dưỡng cho 50 bác sỹ, 10 hậu bác sỹ, hiện là ủy viên thường vụ Tổng hội y học Trung Hoa, ủy viên thường vụ hội khoa học kỹ thuật y học giải phóng quân Trung Quôc Tổng biên tập tạp chí Chấn Thương Trung Hoa ( bản Trung văn và bản Anh Văn). Tổng biên tập tạp chí y học quân giải phóng kiêm phó chủ nhiệm hội đồng biên tập…

 

Trương Liên Dương . Người Triều Dương, Quảng Đông, bác sỹ y khoa, giáo sư chủ nhiệm khoa chấn thương bệnh viện Đại Bình trường đại học quân y 3 kiêm ủy viên thường vụ Hội chấn thương Tổng hội y học Trung Hoa, tổ trưởng học thuật hội Cấp cứu chấn thương và đa chấn thương, tổ trưởng học thuật chuyên nghiệp khoa chấn thương bệnh viện Trùng Khánh …

 

Xong ngày 30 tháng 5 năm 2009

Î

 

Bản dịch bài báo thứ hai

 

Suy nghĩ về hành động và chiến lược cứu viện y học

trong trận động đất cực lớn tại Văn Xuyên

 

 

Trương Nhạn Linh

 

Nguồn : Tạp chí y học quân giải phóng Trung Quốc , xuất bản năm 2009. quyển 34, kỳ ( 1 )

tải lên mạng theo địa chỉ web site

http://www.jfjyxzz.org.cn/Magazine/Show.aspx?Id=1464

 

Phạm Văn Hựu dịch qua bản Trung văn trên mạng

 

Tóm tắt . - Mục đích .Bài viết tổng kết về phương pháp và kinh nghiệm và cứu chữa y học trong trận động đất cực lớn tại Văn Xuyên. Nâng cao năng lực mọi mặt cần có trong cứu viện y học trước thảm họa. Phương pháp .-  Suy nghĩ và nhớ lại những điều tra và mô tả tình hình cứu viện y học trong đống đất lần này, kết hợp giữa thực tiễn cứu viện y học của tác giả , hình thành suy nghĩ về chiến lược cứu viện y học trong động đất. Kết quả .- Phân bổ thời gian có thương vong trong động đất Văn Xuyên giới hạn là 2 tuần, chia ra thời kỳ tăng cao và thời kỳ ổn định. Người bị nạn chủ yếu thuộc 7 đia phương là Đức Xuyên, Cẩm Trúc, Thập Phương , Đô Giang Yển, Thanh Xuyên, Văn Xuyên, Bình Châu đã chịu thảm họa nặng nề, chiếm 72,60% tổng số nạn nhân trong toàn bộ khu vực động đất. Trong cứu viện y học lần này đã có 10 630 nhân viên chuyên nghiệp được điều từ các đội điều tri, đội vệ sinh phòng dịch của 32 tỉnh ( khu, thành phố ) đến khu vực thảm họa, cứu chữa cho 200 vạn người bị thương (NBT) và người bị bệnh(NBB ). 367 bệnh viện quân đội tại 20 tỉnh ( khu, thành phố ) đã thu dung, cứu chữa, chuyển vận cho 10 048 nạn nhân. Tại các khu vực có thảm họa nghiêm trọng đã phân chia khu vực hoặc phân loại thành các mức độ giám sát vệ sinh phòng dịch, thực hiện các biện pháp phòng chống dịch, bảo đảm cho quần chúng NBT, NBB được cứu chữa kịp thời và giữ cho không xẩy ra đại dịch trong các khu vực thảm họa.- Kết luận.- Cần hoàn thiện hệ thống phản ứng cứu viện y học quốc gia, xây dựng lực lượng chuyên nghiệp cứu viện  y học quốc gia, xây dựng các mô đuyn chức năng ( function modules ) các mặt về cứu viện y học, tăng cường bộ môn y học thảm họa và ưu hóa (optimization ) cơ chế chỉ huy cứu viện y học quốc gia, không ngừng đề cao năng lực cứu viện y học trước các thảm họa nghiêm trọng.

 

Xong ngày 30 tháng 5 năm 2009

 

 

 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa