Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

THIẾU TƯỚNG, THẦY THUỐC NHÂN DÂN VÕ VĂN VINH Người cống hiến cả cuộc đời và sự nghiệp cho ngành Quân y


TS. CHU TIẾN CƯỜNG
Trung tướng, Cục trưởng Cục Quân y
BSCKII. NGUYỄN XUÂN LÂN
Đại tá, nguyên Chủ nhiệm quân y Quân khu 5
BSCKI. NGUYỄN NGỌC BÍCH
Đại tá, nguyên Thư ký Tòa soạn Tạp chí Y học quân sự


 

Thiếu  tướng, giáo sư, tiến sĩ, thầy thuốc nhân dân Võ Văn Vinh sinh ngày 2/7/1918 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ông từ trần ngày 8/4/2010 tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

Giáo sư Võ Văn Vinh sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại, thuộc lớp trí thức trước Cách mạng tháng Tám. Thời niên thiếu, ông được bố mẹ cho học tại Trường Quốc học Huế, sau đó tiếp tục theo học ở Trường Bưởi Hà Nội. Tuy điều kiện kinh tế gia đình thuộc diện khá giả, nhưng ông sống và sinh hoạt rất giản dị, luôn hòa đồng với bè bạn cùng trang lứa. Ông học giỏi và là một học trò luôn kính thầy, yêu bạn. Năm 1945, khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công cũng là thời điểm ông tốt nghiệp Trường Đại học Y Dược Hà Nội với tấm bằng loại ưu. Ngay sau khi tốt nghiệp bác sĩ y khoa, ông được Đảng và Nhà nước cử làm Chủ tịch đầu tiên của Bệnh viện Bạch Mai, kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Nội Trường Đại học Y Dược Hà Nội. Là một trí thức, nhưng ông quyết từ bỏ mọi vinh hoa phú quý, giàu sang do cha mẹ tạo dựng để đi theo cách mạng. Tháng 6/1946, 2 tháng sau ngày thành lập Cục Quân y, ông gia nhập quân đội và được bổ nhiệm làm Quân y trưởng Trung đoàn 67 thuộc Liên khu 5. Tháng 12/1947, ông được bổ nhiệm chức Quân y vụ trưởng Liên khu 5; tháng 12/1952, được bổ nhiệm chức Phó Trưởng ban Mặt trận C3 - Bắc Tây Nguyên, kiêm Viện trưởng Viện quân y 1.

Trong suốt 9 năm liên tục, ông phục vụ tại Liên khu 5 - một trong những chiến trường ác liệt, gian khổ, khó khăn, thiếu thốn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Thời kỳ đầu của giai đoạn đó, lực lượng quân y Liên khu 5 chỉ có một số bác sĩ, dược sĩ đại học, y sĩ và dược sĩ trung cấp, trong đó có các bác sĩ Nguyễn Thúc Tùng và Trương Gia Thọ, dược sĩ đại học Nguyễn Sĩ Dư. Ông đã cùng đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y ít ỏi trong những năm 1946-1948 từng bước xây dựng ngành Quân y Liên khu 5 từ không đến có, từ yếu đến mạnh. Đóng góp to lớn của ông đối với Quân y Liên khu 5 là xây dựng, củng cố, phát triển mạng lưới quân y ở các đơn vị chiến đấu và các cơ sở điều trị, bảo đảm ngày càng hiệu quả hơn công tác cứu chữa, phòng chống dịch bệnh cho bộ đội. Một trong những khó khăn của Mặt trận Liên khu 5 lúc đó là tình trạng thiếu thốn thuốc men và bông băng, đặc biệt là thiếu thuốc sốt rét. Cuối năm 1947, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, Tổng Thanh tra Cục Quân y đã trực tiếp vào Liên khu 5  giao cho bác sĩ Võ Văn Vinh 5.000.000 bạc Cụ Hồ và 5 kg bột Quinine. Từ nguồn tài chính và dược liệu ít ỏi đó, với cương vị là Quân y vụ trưởng, ông chỉ đạo bộ phận quân dược của mặt trận sử dụng triệt để và tiết kiệm. Ông là người đầu tiên chủ động tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm chữa bệnh sốt rét bằng thuốc nam của nhân dân, để từ đó chỉ đạo bộ phận quân dược bào chế thuốc sốt rét từ cây dền mọc hoang dã ở nhiều vùng; ngoài ra, ông còn chỉ đạo các dược sĩ nghiên cứu sử dụng nguồn dược liệu sẵn có tại chỗ để bào chế một số thuốc điều trị kịp thời các bệnh ngoài da khá phổ biến ở các đơn vị chiến đấu lúc bấy giờ. Các loại bông băng và thuốc nam do quân dược Liên khu 5 sản xuất đã góp phần giảm bớt tình trạng thiếu gay gắt thuốc men và bông băng do Cục Quân y chưa cung cấp kịp thời. Từ năm 1948, các đơn vị chiến đấu ở chiến trường Liên khu 5 từng bước được củng cố và phát triển; việc cứu chữa, điều trị, phòng chống dịch bệnh cho bộ đội cũng được cải thiện rõ rệt.

Tháng 11/1954, ông được điều động ra miền Bắc, làm Chủ nhiệm Khoa Nội cán bộ Viện Quân y 108, kiêm Phó Chủ nhiệm Khoa Nội Bệnh viện Bạch Mai, đồng thời làm Chủ nhiệm Bộ môn Nội cơ sở Trường Đại học Y Hà Nội. Tháng 4/1957, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Viện trưởng Viện Quân y 108. Đến tháng 8/1960, ông được cử đi nghiên cứu sinh tại Học viện Quân y Kirov (Liên Xô cũ), tháng 7/1964 ông bảo vệ xuất sắc luận án phó tiến sĩ y học. Trở về nước công tác, ông được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm chức Phó Cục trưởng Cục Quân y, sau đó 5 tháng (tháng 12/1964), ông được cử vào mặt trận Tây Nguyên - một địa bàn có ý nghĩa chiến lược, đặc biệt quan trọng đối với cả ta và địch. Bước chân vào một chiến trường xa hậu phương, địa bàn hiểm trở, nơi có lực lượng quân y vừa thiếu lại vừa yếu, việc cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc và bông băng rất khó khăn, lại có nhiều ổ bệnh thiên nhiên lưu hành, đặc biệt là dịch sốt rét và viêm gan virut. Sau năm 1968, gạo ở Mặt trận Tây Nguyên được ví như “tư lệnh chiến trường”, thực phẩm chủ yếu là muối, ngay cả cá khô cũng phải chia dè sẻn cho các đơn vị. Sống và công tác trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn gay gắt như vậy, ông vẫn vững tin vào Đảng, vào quân đội, cùng đồng cam cộng khổ với cán bộ, nhân viên quân y của mặt trận, nhường nhau từng bát cơm, củ sắn, nắm rau rừng, viên thuốc sốt rét. Không những có niềm tin vững vàng, sắt đá vào chiến thắng, ông còn động viên cán bộ, nhân viên quân y vượt qua mọi thử thách, khó khăn để thực hiện tốt nhiệm vụ cứu chữa, điều trị, phòng chống dịch bệnh cho bộ đội, bảo đảm tỉ lệ quân số chiến đấu cao nhất theo chỉ tiêu của trên.

Tháng 5/1969, ông được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm chức vụ Cục trưởng Cục Quân y. Trên cương vị Chủ nhiệm quân y toàn quân từ năm 1969-1979, ông đã chỉ đạo cơ quan Cục Quân y xây dựng kế hoạch bảo đảm quân y phục vụ kịp thời các chiến trường ngày càng phát triển, mở rộng ở phía Nam, chiến trường K và C. Ông dồn hết tâm sức vào việc chỉ đạo quân y các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng và các bệnh viện quân y ở hậu phương miền Bắc không những phải nâng cao chất lượng cứu chữa, điều trị thương binh, bệnh binh, chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh cho bộ đội, mà còn luôn có ý thức sẵn sàng về người và trang bị để trực tiếp đi phục vụ các chiến trường khi trên yêu cầu. Đặc biệt, ông luôn quan tâm tới việc đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y, tăng cường các trang bị, vật tư y tế của ngành. Ông chỉ đạo sát sao cơ quan Cục Quân y chủ động đề ra nhiều phương án phục vụ kịp thời và hiệu quả các kế hoạch quân sự mang tính chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, trong đó có chiến dịch Quảng Trị (1972), chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngay sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), ông đã chỉ đạo cơ quan Cục Quân y lập kế hoạch, tổ chức lực lượng vào tiếp quản các bệnh viện, các kho thuốc, dụng cụ y tế của ngụy quân Sài Gòn; tiếp nhận và quản lý số nhân viên y tế của quân đội ngụy còn lại ở các tỉnh, thành phố phía Nam.

Tháng 8/1980, theo yêu cầu nhiệm vụ của ngành Quân y và Quân đội, ông được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng Y học quân sự Bộ Quốc phòng. Sau 8 năm hoạt động, bằng tri thức, uy tín và ảnh hưởng cá nhân, ông cùng các chuyên viên trong Hội đồng Y học quân sự đem đến cho cán bộ, nhân viên quân y các đơn vị, các bệnh viện quân y và các thế hệ bác sĩ lớp sau nhiều kiến thức chuyên môn thực sự có giá trị về lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm. Ông và tập thể chuyên viên đã có nhiều đóng góp đáng ghi nhận trong công tác phát triển khoa học kỹ thuật của ngành, tập hợp được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đầu ngành từ 3 trung tâm lớn là Viện Quân y 108, Viện Nghiên cứu Y học quân sự và Học viện Quân y vào các hoạt động kỹ thuật và xây dựng ngành.

Tuổi đời ngày một cao, sức khỏe bị giảm sút do các chứng bệnh mạn tính mà nhiều năm ở chiến trường không được điều trị dứt điểm; đồng thời sau khi đã chỉ đạo Hội đồng Y học quân sự thực hiện hầu hết các chương trình trọng điểm của Bộ Quốc phòng, đầu tháng 9/1990, ông được trên cho nghỉ hưu theo chế độ. Tuy được nghỉ hưu, nhưng ông vẫn nhiệt tình tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, trẻ em của Hội Cựu sĩ quan quân y Hà Nội và các tổ chức y tế địa phương; đặc biệt, mỗi khi cán bộ trong ngành có việc gì khó đến xin ý kiến, ông đều tham gia góp ý với tinh thần trách nhiệm của người cán bộ có nhiều kinh nghiệm về công tác xây dựng ngành. Bằng những việc làm thiết thực, có ích cho mọi người và xã hội, ông luôn được đồng đội, đồng nghiệp và nhân dân phường Cửa Đông, quận Ba Đình, Hà Nội - nơi ông sống những năm tháng cuối đời - gần gũi, kính trọng.

92 tuổi đời, 54 tuổi quân, 50 tuổi Đảng, Thiếu tướng, giáo sư, tiến sĩ, thầy thuốc nhân dân Võ Văn Vinh đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe, cứu chữa bộ đội và nhân dân. Giáo sư Võ Văn Vinh đã trực tiếp phục vụ bộ đội trên các cương vị, chức trách khác nhau trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có nhiều năm công tác ở 2 chiến trường gian khổ, khó khăn, thiếu thốn và ác liệt bậc nhất, đó là chiến trường Liên khu 5 và chiến trường Tây Nguyên. Ông là một trong số ít bác sĩ quân y đầu tiên được Chính phủ phong quân hàm cấp tướng (tháng 8/1980), được Nhà nước phong học hàm giáo sư (năm 1980), phong tặng danh hiệu cao quý Thầy thuốc nhân dân đợt đầu tiên (năm 1989). Giáo sư đã đảm nhiệm cương vị chủ chốt của ngành Quân y ở những thời điểm chiến tranh ác liệt, thuốc men và trang thiết bị thiếu thốn và không đồng bộ. Hơn thế nữa, giáo sư còn là một trong số ít cán bộ quân y đã đồng hành và chứng kiến sự trưởng thành to lớn của Quân y Việt Nam từ thuở ban đầu cho đến thập niên đầu của thế kỷ XXI. Ở cương vị công tác nào, dù ở hậu phương hay chiến trường, trước mọi khó khăn gian khổ, ác liệt, giáo sư luôn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lập trường, quan điểm của người cán bộ quân y một lòng theo Đảng, theo cách mạng, để phục vụ quân đội, phục vụ nhân dân được tốt hơn.

Trước khi về cõi vĩnh hằng, Thiếu tướng, giáo sư, tiến sĩ, thầy thuốc nhân dân Võ Văn Vinh đã để lại cho các lớp cán bộ quân y nhiều di sản quý báu. Đó là 35 công trình nghiên cứu khoa học về tổ chức chiến thuật quân y ở chiến trường Liên khu 5; bệnh học tiêu hóa, ung thư gan, suy dinh dưỡng, tê phù, phòng chống sốt rét ở Mặt trận Tây Nguyên… Những công trình nghiên cứu của giáo sư không những có giá trị về khoa học và thực tiễn, mà còn có giá trị kinh nghiệm, giúp cho các thầy thuốc quân y vận dụng vào công tác cấp cứu, điều trị và phòng chống dịch bệnh cho bộ đội. Công trình nghiên cứu Tổng kết công tác quân y chiến trường Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) do giáo sư chủ biên là những kinh nghiệm, những bài học đã được trải nghiệm qua thực tế về quá trình tổ chức, xây dựng, củng cố và phát triển ngành Quân y, đặc biệt là quân y Liên khu 5 (nay là Quân khu 5), quân y Mặt trận Tây Nguyên (nay là Binh đoàn Tây Nguyên); đó còn là những kiến thức chuyên ngành, những kinh nghiệm thực tế về khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho bộ đội và nhân dân trong suốt hơn nửa thế kỷ. Những di sản đó vẫn còn mãi mãi với thời gian. Một trong những điều quý báu nhất mà giáo sư để lại cho những cán bộ, chiến sĩ quân y đang công tác ở các đơn vị, cơ sở điều trị, nhà trường hôm nay chính là ý chí, nghị lực và lòng quyết tâm theo Đảng, theo cách mạng; cốt cách, tài năng, tâm đức của người thầy thuốc quân đội đã gắn bó cả cuộc đời với ngành Quân y, với sự nghiệp vì sức khỏe bộ đội và nhân dân.

Giáo sư Võ Văn Vinh đã sống và làm việc hết mình, thật xứng đáng với những phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước và Quân đội đã trao tặng: Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ, danh hiệu Thầy thuốc nhân dân, 13 huân chương, huy chương và nhiều danh hiệu khác. Ngành Quân y Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và lực lượng quân y Quân khu 5 nói riêng mãi mãi biết ơn và ghi nhận công lao to lớn của giáo sư Võ Văn Vinh, mãi mãi trân trọng những bài học quý về công tác tổ chức, xây dựng, phát triển nhân lực và nguồn lực cho ngành Quân y mà giáo sư đã đúc rút từ thực tiễn phục vụ chiến đấu trong suốt cuộc đời binh nghiệp của ông. q


Nguồn: Tạp chí y học quân sự, số 9-10/2010

Chuyển lên WebQDY : Nguyễn Duy Tuân




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa