Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Giáo sư Phạm Gia Triệu - NGƯỜI THÀY THUỐC NHÂN DÂN KIÊN CƯỜNG, TẬN TỤY VÀ TÀI NĂNG


 

Đó là anh hùng Giáo sư Phạm Gia Triệu, chuyên viên đầu ngành ngoại khoa Quân y. Anh sinh ngày 15-01-1918 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (cũ), quê hương của nhiều nhà trí thức yêu nước Cách mạng. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhà có ba anh chị em được học hành đùm bọc nuôi dưỡng. Riêng anh Triệu bắt đầu học chữ nho ở làng, rồi được chú ruột là dược sĩ Phạm Tề, một nhân sĩ yêu nước nuôi ăn học ở Nam Định. Tuy ông mở hiệu thuốc tại Phan Thiết, nhưng vẫn gửi tiền cho cháu. Học xong cấp hai, Anh lên Hà Nội vừa đi làm thêm, vừa học hết tú tài. Đã tưởng đến đây phải phá ngang làm nghề sư phạm. Nhưng Anh đi dạy học buổi tối thêm vào số tiền chú cho để vào học trường thuốc. ở đây cũng nên nói đến sự giúp đỡ thân tình của gia đình chị Nguyễn Thị Hồng Nhung, sau này là người bạn đời của anh.

Cảm kích trước sự giúp đỡ của họ hàng, Anh chăm chỉ học tập. Anh học trường thuốc thuộc lớp người kế tiếp các thế hệ đi trước như giáo sư Hồ Đắc Di, Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bác sĩ Tôn Thất Tùng, đồng khóa hoặc sau một, hai năm với những người bạn lớn: Nguyễn Trinh Cơ, Nguyễn Thúc Tùng, Hoàng Đình Cầu, Võ Văn Vinh, Đặng Đình Huấn...Đó là những đại biểu của các tri thức trẻ Việt Nam đi vào khoa học, ngành y. Năm 1943, Anh được công nhận là sinh viên nội trú dự bị, rồi chính thức của các Bệnh viện Hà Nội, chủ yếu là Bệnh viện Yersin (Phủ Doãn-Việt Đức) và Bệnh viện De Lanessan (Đồn Thủy hay là Viện 108). Hồi ấy tại Bệnh viện Yersin, đúng là người Pháp cai quản về hành chính, còn về kỹ thuật mổ xẻ, các Bác sĩ và sinh viên Việt Nam hầu như quán xuyến tất cả. Người Pháp chỉ có giáo sư Huard mổ mỗi tuần ba phiên và họ tỏ ra trọng thị tài năng phẫu thuật của người Việt Nam, tiêu biểu là Cụ Di, Cụ Tụng và ông Tôn Thất Tùng. Các Bác sĩ và sinh viên nội trú Việt Nam, luôn luôn là nòng cốt của mọi hoạt động khoa học kỹ thuật. Riêng sinh viên nội trú, mỗi Bệnh viện chỉ có ba, bốn người, thay nhau trực, xử trí các ca cấp cứu thời bình và các tai nạn trong thành phố. Họ học tập và làm việc vất vả, nhưng họ, trong đó có Anh Triệu, mau chóng nắm được kỹ thuật mổ xẻ và kiến thức cũng sâu rộng thêm.

Trong thế chiến II, Hà Nội bị bắn phá nhiều lần. Có nhiều vụ ném bom và sau các trận đánh Nhật đảo chính Pháp, nạn nhân lên đến hàng trăm. Để có thể thu dung hàng loạt, công tác tổ chức cứu chữa dần dần hình thành như: phân loại chọn lọc, chỉ định người mổ theo vết thương, bố trí nhiều bàn mổ, phân công các thì mổ cho phẫu thuật viên và người phụ, để có thể mổ nhiều bàn một lúc, sắp xếp bồi dưỡng các kíp mổ để giữ được sức khỏe mổ dài ngày. Vì vậy, các phẫu thuật viên tại Việt Nam tích lũy được kinh nghiệm cả về ngoại khoa thời binh và thời chiến. Riêng về phẫu thuật chiến tranh, đã có những khái niệm ban đầu về tổ chức cứu chữa. Trong môi trường học tập đó, Anh Triệu đã tiếp thu được rất nhiều về ngoại khoa chung và cái mạnh của anh là ngoại bụng và ngoại sản.

Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Anh đang nội trú ở Bệnh viện De Lanessan. Theo quyết định của Chính phủ cách mạng, Anh được công nhận tốt nghiệp Bác sĩ y khoa. Tháng 11-1945, tình nguyện vào quân y cùng với ba y tá quen biết, Anh ra Đông Triều thành lập cơ sở quân y đầu tiên của đệ tứ chiến khu, sau này là quân y trung đoàn 98. Từ đó đến 1949, Anh trụ lại với chiến khu lịch sử này. Tháng 3-1947, địch tấn công đường 18, Bệnh xá đang ở làng Đại Bộ gần Chi Ngãi, mới sáng ra địch đã vây ráp. Anh Triệu cho anh em rút vào sâu. Vợ anh mới sinh cháu chưa đầy cữ. Vai đeo ba lô, tay bế cháu bé, Anh cùng anh em luồn rừng, trên trời máy bay bà già vẫn ầm ĩ dòm ngó. Vùng mỏ với những địa danh nghe đã thấy ớn lạnh: Dá Cóc, Sà Túi, Hố Sừu, Hố Dải, nơi Bệnh xá bị đốt phá. Thế mà Bệnh nhân và nhân viên, thuốc men vẫn an toàn. Đức tính bình tĩnh của Anh Triệu và rừng sâu đã bảo vệ lực lượng ta. Rồi Dàn Nát, Khe Chè, Khe Khoai, Mai Siu là nơi địch luôn bắn phá, biệt kích hòng làm tan rã quân y trung đoàn 98. Trong tình thế đó, trước lá thư chiêu hồi của viên sếp bốt Đông Triều, Anh đã báo cáo ngay với chỉ huy trung đoàn. Cuộc sống giàu sang, yên bình và tấm bằng thạc sĩ y khoa tại Pa-ri mà lá thư hứa hẹn, không lay chuyển được anh. Lòng yêu nước của Anh được thử thách và tôi luyện. Đường dây qua vùng tạm chiếm lên Việt Bắc thật nguy hiểm, nhưng Anh vẫn lên được Bắc Giang báo cáo công việc với Quân y vụ Việt Bắc và Quân y Cục.

Năm 1949, Anh được điều về trường y tá trưởng, rồi trường Quân y sĩ.

Năm 1950, Anh đi chiến dịch Biên Giới với đội điều trị I phục vụ trận đánh Đông Khê và suốt chiến dịch. Anh được Bác Hồ gửi thư khen và được tặng huân chương. Sau đó, Anh đi nhiều chiến dịch tiếp theo. Đến chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng với Bác sĩ Bộ trưởng thương binh Vũ Đình Tụng, Anh tham gia chỉ đạo kỹ thuật mổ xẻ cho các cơ sở cấp cứu.

Sau năm 1954, Anh làm nghiên cứu sinh phó tiến sĩ ở Liên Xô (cũ) bảo vệ thành công luận án chuyên ngành phẫu thuật thần kinh tại Viện Bour-denko với đề tài “u gai não thất IV”. Về nước, Anh làm Viện phó Viện 108, tham gia Đảng ủy viện, chủ nhiệm khoa phẫu thuật thần kinh và chuyên viên đầu ngành ngoại khoa toàn quân. Năm 1968, Anh vào B5 phục vụ, giữa lúc cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đang nóng bỏng. Anh chỉ đạo cấp cứu ngoại khoa chung và trực tiếp mổ các thương binh sọ não, cột sống. Anh đã được phong Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1967 và là đại biểu Quốc hội khóa 6.

Năm 1972, Mỹ lại ném bom miền Bắc. Trong một buổi mổ phiên, Anh đang mổ một ca áp xe não cho một đai úy bạn Lào. Máy bay bắn phá quanh viện. Một quả rốc két bắn gần nhà mổ. Cả kíp mổ che lấy thương binh. Một mảnh nhỏ văng vào đầu Anh Triệu. Anh vẫn bình tĩnh cho kíp mổ sơ tán, mình anh ở lại với thương binh, tay giữ chặt miếng gạc che vết mổ. Buổi tối mổ lại, thương binh được cứu sống. Bình tĩnh, kiên cường, nghiêm túc, dũng cảm là những đức tính quý báu của Anh. Từ lúc bị bao vây ở rừng núi Đông Triều, với lá thư chiêu hồi lúc gay cấn nhất, sau đó là bom đạn ở B5 (1968) đến vụ nhà mổ Viện 108 bị bắn phá năm 1972, nói lên bản lĩnh của Anh xứng đáng với danh hiệu Anh hùng.

Trong cuộc sống của các nhà phẫu thuật, khi mổ xẻ và hậu phẫu thường là lúc căng thẳng nhất. Vì vậy, một số Bác sĩ người Pháp khi gặp các ca mổ khó hay thô bạo, thiếu lịch sự tối thiểu với y tá, sinh viên, kể cả với Bệnh nhân Việt Nam. Người ta gọi đó là tác phong thuộc địa của các thầy thuốc mẫu quốc đối với dân bản xứ. Một số ít thầy thuốc ta bị ảnh hưởng tác phong đó. Với Anh Triệu thì không, Anh học thầy và các đàn anh về kiến thức và tay nghề, còn lúc khó khăn, cái nhất quán ở Anh là bình tĩnh, ít nói, khẩn trương tìm cách khắc phục. Trong đời thường, có thể là Anh lạnh lùng, ít tình cảm. ở lâu mới biết Anh vui không quá mức, giận không quá đáng. Anh chị em sinh viên, y tá thấy ở Anh sự bao dung nhân hậu của người anh cả, của người thầy đáng kính. Anh có những ham thích lành mạnh là thể dục, thể thao và vẽ tranh bằng bột mầu. Đó là cách giải trí, thư giãn của các nhà phẫu thuật sau những cuộc mổ có khi lo âu, phấp phỏng. Cũng như giáo sư Tôn Thất Tùng hay làm thơ, dịch thơ Tố Hữu sang tiếng Pháp, giáo sư Nguyễn Trinh Cơ am hiểu chữ Hán và thường viết văn...

Với những chuyên ngành phẫu thuật thần kinh, ừ 1960-1990, Anh đã cùng anh em xây dựng một khoa mổ xẻ rất mới, ứng dụng vào những vùng tổn thương rất dễ gây tử vong. Ban đầu, hàng năm mới mổ khoảng 100 ca, đến nay là 250 ca, tử vong ngày càng thấp. Anh đã cùng với khoa hoàn thành nhiều đề tài nghiên cứu: U máu não, dị vật trong não, vết thương sọ não do bom bi, chẩn đoán sớm áp xe não, tổn thương não thất trong phẫu thuật lấy áp xe não và gần đây nhất là dùng khoan trục mềm lấy bản sọ để cấy vào chỗ khuyết xương sọ. Với cương vị chuyên viên đầu ngành ngoại khoa, thành công lớn nhất của Anh là đã cùng tập thể phẫu thuật viên từ những thực tế cứu chữa, biên soạn cuốn Điều lệ xử lý vết thương chiến tranh. Cuốn điều lệ này không chỉ có giá trị trong ngành quân y, mà còn phát huy tác dụng trong kết hợp quân dân y thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng.

Đầu năm 1990, Anh đã cùng với khoa cứu sống một thương binh với hai ổ máu tụ ở vùng trán và vùng thái dương. Đây là một thành công ít có và là người thương binh cuối cùng mà Anh cứu sống. Sau đó Anh lâm Bệnh. Trước khi nằm điều trị, Anh vẫn dự buổi giao ban của Viện lần cuối cùng. Anh mất ngày 13-6-1990, an táng tạ nghĩa trang Mai Dịch. Vợ anh, chị Nhung, lúc này bị thoái hóa khớp biến dạng hầu như tàn phế, ngồi trên xe lăn bên mộ Anh, vĩnh biệt người bạn đời chung thủy.

Cuộc đời của thầy thuốc nhân dân, Thiếu tướng, anh hùng, Giáo sư Phạm Gia Triệu như được lịch sử sắp xếp, chuẩn bị đón chào và phục vụ cách mạng. Năm 1937-1938, Anh vào học trường thuốc, để rồi đúng tháng 9-1945 khi cách mạng thành công, tốt nghiệp Bác sĩ, vào quân y với chuyên ngành ngoại khoa, một ngành cứu chữa chủ chốt trong tất cả các cuộc chiến tranh. Anh đã có mặt ở nhiều nơi vào những thời điểm quyết định: chiến dịch Biên Giới, Điện Biên Phủ, Mậu Thân 1968, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tháng 5-1975, Anh dẫn đầu một đoàn chuyên viên quân y cùng với Phòng quân y B2 tiếp nhận sự đầu hàng của các cơ sở kỹ thuật quân y Sài gòn cũ.

Toàn ngành Quân y ghi nhớ mãi hình ảnh người Thầy thuốc nhân dân kiên cường, tận tụy và tài năng, đã suốt đời phục vụ Cách mạng, góp phần đắc lực xây dựng ngành ngoại khoa ngày càng hiện đại, sẵn sàng phục vụ quân đội, nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

BS. Trần Trọng Vực

Chuyển lên Web QDY : Văn Hữu Nhân . Phạm Ngọc Đính




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa