Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Nguyễn Hữu Cầu - Một đại sĩ phu


Une grande figure de lettré

Thứ Sáu 12, Tháng Giêng 2007, BTV: DT

Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, viết về nhà chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục Nguyễn Hữu Cầu (1879-1946). Nguyên văn tiếng Pháp: Une grande figure de lettré, đăng trên báo Le Peuple [1], 4-8-1946

Nguyễn Hữu Cầu, hiệu là Giản Thạch, sinh năm 1879 tại làng Trung Tự, huyện Hoàn Long, đã nhẹ nhàng thanh thản ra đi ngày 13 tháng 7 vừa qua trong tình quyến luyến của đông đảo con cháu, trước sự kính trọng của bạn hữu và nỗi tiếc thương của các cựu học viên trường Đông Kinh Nghĩa Thục, nơi ông từng giảng dạy suốt gần ba năm trời[2].

Một gương mặt sĩ phu cao cả và trong sáng đã ra đi, gương mặt của một nhà yêu nước vĩ đại, một trí tuệ kiên cường, uyên bác và sáng tạo đã chiến đấu suốt đời vì nền độc lập của Việt Nam.

Đậu cử nhân khoa Bính Ngọ (1906) tại trường thi Nam Định, ông từ chối các chức quan để dành toàn tâm cho nghiệp bút, nổi bật là việc biên dịch các Tân thư Trung văn. Làm thơ về cố quốc Việt Nam và những quang vinh của quê hương, ông không ngừng tìm kiếm trong quá khứ xa xăm một truyền thống và các bài học cho ngày mai. Làm thơ về những thuở huy hoàng xưa kia và các hy vọng tương lai, ông là thi sĩ của lý tưởng Việt Nam, của tất cả những ai tự gánh trách nhiệm giành lại độc lập cho đất nước.

Vào thời kỳ ấy, từ năm 1905 đến năm 1914, toàn bộ nền văn học ngầm được viết bằng chữ Hán hoặc Quốc Ngữ đều có tính chính trị, mọi nghiên cứu, mọi khảo luận đều như chuẩn bị cho cuộc chiến du kích. Văn phú là phúng dụ, thơ ca thì bóng gió, tiểu thuyết và kịch nói dạy luân lý; người ta không mấy để ý đến nghệ thuật nhưng những nhà phê bình đã khêu gợi và kêu gọi khởi nghĩa; những sử gia và văn sĩ là người chủ xướng. Đó là họ đã dường mong một cuộc cách mạng sẽ lôi cuốn trong cùng bầu nhiệt huyết toàn bộ nhân dân với 25 triệu tâm hồn đang sôi lên những khát vọng và tình cảm giống nhau, biến sự tuyên truyền lúc ấy còn là bề nổi sẽ trở thành hành động và sẽ cho mọi người biết rằng đã từng có một Tổ quốc.

Nguyễn Hữu Cầu nói: “Tôi luôn cảm thấy cố quốc rung động trong trái tim mình… ”. Qua những núi đồi và dòng sông trong thơ ca của ông, dù không xuất bản nhưng được nhiều bạn hữu và học trò thuộc lòng, Nguyễn Hữu Cầu đánh thức các vị thánh thần xưa kia của đất nước. Và trên phế tích của những thành đô hoang tàn như Cổ Loa, Đại La hay Hoa Lư, thơ ông làm sống lại nguồn gốc con Rồng cháu Tiên cũng như phẩm giá và dũng khí của tổ tông, khơi dậy những truyền thuyết bị chôn vùi từ bao thế kỷ trong các mộ táng của Việt Nam, dưới các miếu đền của Bắc Bộ, và ông đã tái hiện như thế lịch sử lâu đời của dân tộc mình.

Nguyễn Hữu Cầu từng nói: “Hôm qua trẻ trung nay đã già 4000 tuổi, dân tộc này hiện đang thiếu một lý tưởng, tức là đức tin vào truyền thống của Tổ quốc và ý thức khách quan về sứ mệnh của mình trong lịch sử và văn minh Đông Dương – chỉ riêng đức tin hoặc ý thức ấy sẽ làm nên một dân tộc của tương lai”. Ông không nói ta phải làm những việc lớn giống như các bậc tiền bối, ông chỉ nói rằng khi có các bậc tiền bối đã từng như thế thì ta cũng hãy phải làm những việc lớn.

Nhưng Nguyễn Hữu Cầu không chỉ mong Việt Nam mạnh về vật chất mà ông còn mong cho mạnh về trí tuệ: cao hơn những gì đã đạt trong sự nghiệp tinh thần phải là phẩm cách và phải như dấu ấn của riêng mình. Ông thường nói với môn sinh: “Tự do này, độc lập này mà đồng bào ta vừa giành lại, chúng ta phải gìn giữ trong lĩnh vực tinh thần. Chính bằng nghệ thuật và khoa học mà các dân tộc trở nên bất diệt. Chúng ta cần dõng dạc và hào hùng tự khẳng định mình như một dân tộc. Phải làm sao thông qua nghiên cứu ngôn ngữ mà nghiên cứu dân tộc và làm sao in sâu như khắc trong lòng mình tính cách Việt thuần khiết. Hiện nay chúng ta quá Tây, quá Tàu rồi, chúng ta là bọn giáo điều chiết trung, chúng ta là kẻ xã hội chủ nghĩa chuyên quyền: chúng ta cần phải là người Việt… ”

Khi một trong các môn sinh của mình xin được dịch sang văn xuôi tiếng Việt vài bài thơ chữ Hán của thầy, Nguyễn Hữu Cầu trả lời rằng bản dịch sang văn xuôi vẫn là trung gian duy nhất xác đáng giúp cho có thể tiếp cận việc nghiên cứu một nhà thơ viết bằng ngôn ngữ mà ta biết, nhưng nó luôn luôn lạnh lẽo và ít thoả mãn biết bao, dù vọng tưởng chính xác đến đâu ! Dĩ nhiên nó phản ánh các từ, các ý, các hình ảnh; nhưng có một việc thì không thể: đó là hình thái, nhịp điệu, sự hài hoà, và điều ấy phải chăng là nét độc đáo của chính thi ca ? Chỉ một công cụ là câu thơ mới có thể cho phép truyền cảm được những thứ đó. Nhưng để thử một ý định như vậy thì tự mình phải là thi sĩ, và đấy là khó khăn to lớn mà nhiều người không vượt nổi… ”.

Bị đày đi Côn Đảo năm 1918 chỉ vì đã chu cấp cho các học sinh Việt Nam sang Trung Quốc và Nhật Bản du học, Nguyễn Hữu Cầu không ngừng đấu tranh dũng cảm chống lại chủ nghĩa thực dân, đặc biệt là phản đối việc một số người Pháp chiếm đoạt đất đai gây thiệt hại cho nông dân Việt Nam. Người ta biết rằng tình trạng ruộng đất ở Bắc Bộ và Trung Bộ thời ấy không được rõ ràng do thiếu hoàn toàn các văn tự sở hữu theo ý nghĩa mà người Pháp gán cho từ này. Văn tự của người Việt không phải lúc nào cũng cho biết diện tích và chỉ viết rất đại khái về các ranh giới của thửa đất. Cho rằng “không hoàn chỉnh trong khâu soạn lập và dễ bị giả mạo nên văn tự kiểu này không có gì làm bảo đảm !”, chính quyền “bảo hộ” không hề đếm xỉa bất cứ điều gì và đã cấp nhiều ruộng đất cho các thực dân hoặc quan chức người Pháp, bất chấp những khiếu nại của các chủ nhân hợp pháp. Chính vì thế mà các địa sản lớn đã lan rộng đáng kể trong những năm Pháp chiếm đóng, nhất là sau năm 1900. Tiếp theo số tài sản khác thường của nhiều quan chức hoặc tay sai Pháp mà công việc “bảo hộ” không làm quên đi sự chăm lo cho tư lợi cá nhân, mối ưu đãi của chính quyền thực dân đã giúp họ chiếm được các đồn điền mênh mông mà một mình sự tham ô của họ còn chưa thể đủ để làm lớn thêm diện tích…

“Đó là một sai lầm”, Nguyễn Hữu Cầu nói trong phiên toà xét xử mình [3] năm 1916, “khi tin rằng sức mạnh làm được mọi điều – dù là sức mạnh quân sự, pháp luật, tiền bạc hoặc bất cứ phương tiện nào khác mà không cần tranh luận - đó là một sai lầm mà nhiều người Pháp các ngươi thường dễ dàng mắc phải… ”.

Trước một dũng khí điềm tĩnh đến thế, ta phải tự nhắc nhau rằng tuy Nguyễn Hữu Cầu đã mất quá sớm đối với gia quyến, bạn hữu và môn sinh của mình, tuy ông đã để tất cả chúng ta ở lại với nỗi đau thương, nhưng ông đã không rời bỏ mảnh đất này khi chưa hoàn thành định mệnh tinh thần lớn lao. Tiếng tăm của ông đã đến mức không cần lớn hơn nữa: ông đã cống hiến nhiều hơn nghĩa vụ của một nhà sĩ phu và ái quốc. Ông đã mệt mỏi, mong được nghỉ ngơi, nhẹ nhàng đối diện cái chết mang lại cho mình sự tĩnh lặng và bình an. ■

NGUYỄN VĂN TỐ [4]

(Hà Nội 27-9-2006, Nguyễn Chí Công cẩn dịch [5])

Une grande figure de lettré [6]

par Nguyen Van To

Le Peuple du 4-8-1946

NGUYEN HUU CAU (Gian Thach) qu’une mort douce et pleine de sérénité a enlevé, le 13 Juillet dernier, à la tendre affection de ses nombreux enfants et petits-enfants, à l’estime de ses amis, aux regrets des anciens élèves du Dong-Kinh Nghia-thuc où il a enseigné pendant près de trois ans, était né au village de Trung Tu (huyen de Hoan-Long) en 1879.

C’est une haute et pure figure de lettré qui disparaît, celle d’un très grand patriote d’un esprit puissant, étendu et ingénieux qui, toute sa vie, a combattu pour l’indépendance du Viêt-nam.

Reçu cu-nhan (licencié ès-lettres) au concours de Nam-Dinh en l’année Binh-Ngo (1906) il renonça aux fonctions mandarinales pour se consacrer tout entier aux lettres, notamment à la traduction des ouvrages chinois modernes. Poète du Viêt-nam antique et de ses gloires, il s’appliqua sans cesse à chercher, dans ce passé lointain, une tradition et des leçons d’avenir. Poète des grandeurs d’autrefois et des espérances futures, il fut le poète de l’idéal vietnamien, de tous ceux qui se sont donnés comme tâche de reconquérir l’indépendance du pays.

A cette époque, entre 1905 et 1914, toute la littérature secrète en caractères chinois ou en quoc-ngu, était politique, toute étude, tout essai, était comme une préparation à la guérilla. La ballade était une allégorie, l’ode une allusion, le roman et le drame un apologue; d’art on ne s’en occupait guère, mais les critiques excitaient et appelaient à l’insurrection; les historiens et les lettrés étaient conspirateurs. C’est qu’ils auraient voulu une révolution qui aurait entraîné dans le même élan tout ce peuple de 25 millions d’âmes animées des mêmes aspirations et des mêmes sentiments, qui aurait transformé en action cette agitation alors superficielle, qui aurait appris à tous qu’il y avait une patrie.

“Je sens, disait Nguyen-Huu-Cau, la patrie antique frémir dans mon cœur …”. Dans ses poèmes restés inédits mais que beaucoup de ses amis et de ses élèves retiennent par cœur, Nguyen-Huu-Cau réveille à travers les monts, les collines et les fleuves, les antiques dieux de la patrie; sur les ruines des cités disparues, de Co-loa, de Dai-la ou de Hoa-lu, il fait revivre les origines divines, la valeur, et le courage des ancêtres; il ranime les légendes ensevelies depuis tant de siècles, dans les sépultures du Viêt-nam sous les temples du Bac-bo, et réédifie ainsi la longue histoire du peuple vietnamien.

“A cette nation jeune d’hier et vieille de quarante siècles, dit Nguyen-Huu-Cau, il manque un idéal, c’est à dire la religion des traditions de la patrie et la sereine conscience de sa mission propre dans l’histoire et dans la civilisation indochinoises - religion ou conscience qui seules font un peuple d’avenir”. Il ne dit pas: il faut faire d’aussi grandes choses que nos ancêtres, il se contente de dire: quand on a des ancêtres qui ont fait d’aussi grandes choses que les nôtres, il faut, soi aussi, faire de grandes choses.

Mais il ne suffisait pas à Nguyen-Huu-Cau que le Viêt-nam fût fort matériellement, il aurait encore voulu qu’il le fût intellectuellement: mieux qu’il eût dans les choses de l’esprit, sa personnalité et comme sa marque propre. Il disait à ses élèves: “Cette liberté, cette indépendance que nos concitoyens viennent de reconquérir, nous devons la soutenir dans le domaine de l’esprit. C’est par l’art et la science que les nations s’éternisent. Nous avons besoin de nous affirmer hautement et glorieusement comme nation. Il faut qu’en étudiant la langue, on étudie la nation, et qu’on imprime sur son âme, comme un sceau, le caractère vietnamien pur. Nous sommes aujourd’hui trop Français, trop Chinois, nous sommes doctrinaires éclectique, nous sommes socialistes autoritaires: nous devons être Vietnamiens …”

A l’un de ses élèves qui lui avait demandé l’autorisation de traduire en prose vietnamienne quelques unes de ses poésies en caractères chinois, Nguyen-Huu-Cau répondit que la traduction en prose reste le seul moyen précis par laquelle on puisse aborder l’étude d’un poète dont on connaît la langue, mais combien froide et peu satisfaisante elle est toujours, quelle que soit l’exactitude à laquelle elle prétende! Elle rend les mots, les pensées, les images, sans doute, mais il y a une chose qu’elle ne peut rendre, c’est la forme, le rythme, l’harmonie et cela n’est ce pas le propre même de la poésie ? Un seul instrument, le vers, peut permettre de tenter de les faire sentir. Mais, pour essayer une tentative de ce genre il faut être poète soi-même, et c’est là la grande et pour beaucoup l’insurmontable difficulté …”

Exilé en 1918 à Poulo Condore pour avoir fourni des subsides aux étudiants vietnamiens en Chine et au Japon (!) Nguyen-Huu-Cau ne cessa de mener une campagne courageuse contre le colonialisme, notamment contre l’octroi de concessions agricoles a certains Français au détriment de nos paysans vietnamiens. On sait que la situation des rizières est au Bac-bo et Trung-bo, rendue assez confuse par l’absence complète de titres de propriété au sens que les Français attachent à ce mot. Le titre vietnamien n’indique pas toujours la contenance et ne fait que des mentions très vagues des limites de la parcelle. “Incomplet dans sa rédaction et sujet à des falsifications, il n’offre, dit l’administration du “protectorat” aucune garantie ! ” Elle n’en tient donc aucun compte et elle octroie en dépit des réclamations de leurs légitimes propriétaires, de nombreuses rizières à des colons ou à des fonctionnaires français. C’est ainsi que la grande propriété a pris un développement considérable dans les années qui suivirent l’occupation française notamment après 1900. A la suite de la prodigieuse fortune de quelques fonctionnaires ou agents français auxquels les affaires du “Protectorat” n’avaient pas fait oublier les soins qu’ils devaient à leurs intérêts personnels, la faveur de l’administration colonialiste leur avait fait acquérir des domaines immenses que leurs propres malversations n’avaient pas pu réussir à agrandir encore.

“C’est une erreur, disait Nguyen-Huu-Cau lors de son jugement en 1916, c’est une erreur dans laquelle vous autres, Français, tombez assez aisément, de croire que la force suffit à tout, que ce soit la force armée, la force de la loi, la puissance de l’argent ou tout autre moyen qui n’en discute pas … ”

Devant un courage aussi tranquille il faut se redire que si Nguyen-Huu-Cau est mort trop tôt pour les siens et pour ses amis et ses élèves, s’il nous laisse à tous l’âme déchirée, il n’a pas quitté cette terre sans avoir accompli sa destinée de grand esprit. Sa renommée n’avait plus d’accroissement à attendre: if avait fourni plus que sa tâche de lettré et de patriote. Il était las, il aspirait au repos; il a été doux envers la mort, elle lui a donné le silence et la paix. ■

NGUYEN VAN TO

CHÚ THÍCH

[1] Le Peuple (Nhân dân): tờ báo tiếng Pháp phát hành tại Hà Nội năm 1946, trang nhất in tiêu ngữ “Cơ quan đấu tranh vì nền độc lập của nước Việt Nam”, chủ nhiệm là ông Lưu Văn Lợi, sau làm Trưởng phòng địch vận Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, trước khi về hưu là Bộ trưởng – Trưởng ban Biên giới Chính phủ CHXHCN Việt Nam.

[2] Trường Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) bộ phận ở Hà Nội chỉ hoạt động trong thời gian từ tháng 3 tới tháng 12 năm 1907. Tác giả viết “suốt gần ba năm trời” có lẽ là tính thêm cả hai năm cụ Nguyễn Hữu Cầu tiếp tục dạy học tại trường Quảng Hợp Ích của cụ Nghiêm Xuân Quảng (một nhà hoạt động khác của ĐKNT) sau khi trường ĐKNT bị thực dân Pháp cấm.

[3] Trong thời gian 1907-1915, Nguyễn Hữu Cầu và các đồng chí của ông đã tổ chức tìm kiếm các thanh niên có ý chí, giúp họ kinh phí sang Trung Quốc học làm cách mạng. Một thanh niên trong số đó khi bị bắt đã khai ra Nguyễn Hữu Cầu làm thực dân Pháp kết án ông 5 năm tù với tội danh “có âm mưu lật đổ chính phủ bảo hộ”.

[4] Nguyễn Văn Tố (1889-1947), hiệu Ứng Hòe, người Hà Nội. Trợ lý Khoa học tại Viện Pháp quốc Viễn đông Bác cổ - École française d’Extrême-Orient (EFEO), cơ quan nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Nổi tiếng uyên bác và cương trực, không màng danh lợi, được cả người Pháp kính nể. Là nhà văn hóa lớn và cây bút nổi tiếng văn đàn Việt Nam đương thời, đã viết hàng trăm bài nghiên cứu với hàng nghìn trang sách tiếng Việt và tiếng Pháp. Trước 1945 từng làm Hội trưởng Hội Trí Tri, sáng lập và làm Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938-1945) nhằm xóa nạn mù chữ cho dân nghèo và nâng cao dân trí. Cụ đã đứng bên Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lễ đài Đại Lễ Tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 2-9-1945. Từng được cử làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội rồi Trưởng ban Thường trực (tức Chủ tịch) Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I. Tháng 10-1947 bị lính Pháp bắn chết khi chúng nhảy dù xuống Bắc Kạn, nơi sơ tán của Ủy ban Thường trực Quốc hội.

[5] Còn có bản dịch tóm tắt với đầu đề “Một gương mặt lớn sĩ phu” của ông Dương Xuân Thự đã đăng trên tạp chí Tài Hoa Trẻ số 242+243 năm 2002.

[6] Trích "Nguyễn Hữu Cầu - chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục", Chương Thâu và Hồ Anh Hải biên soạn, nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2007.

Chuyển lên WebQDY : VHN

 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa