Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

DỊCH LÝ VỚI Y LÝ


Người xưa thường nhắc “Bất học dịch bất khả tri y - 不學易不可知醫 ” có nghĩa là: không học về kinh dịch (經易) thì không hiểu y lý (醫理). Kinh dịch không nói đến bệnh, không nói đến thuốc, không nói đến phủ tạng của người, giống như không có quan hệ gì với thuốc, thế thì học thuốc biết dịch là lẽ vì sao?

Chúng ta biết rõ quy luật hoá sinh trong trời đất là lấy hai khí âm dương (陰陽) mà hoá sinh muôn vật, cái lẽ sống của con người là lấy hai khí âm dương mà nuôi sống mọi nơi và phủ tạng (腑臟), người ta là bẩm thụ khí âm dương của trời đất. Phát minh về sự huyền diệu của âm dương động tĩnh trong trời đất không sách nào rõ ràng bằng Kinh dịch. Vì vậy không học dịch () thì sao hiểu được Y ().

Hải Thượng Lãn Ông, danh y nước ta thế kỷ XVIII đã nói “Hãy học Kinh dịch rồi mới nói đến chuyện làm thuốc”. Theo ông thì học Kinh dịch rồi mới nói đến chuyện làm thuốc nghĩa là học về quái (), tượng (), hào tử (爻子) để nắm lấy qui luật mâu thuẫn thống nhất của âm dương, cái đầu mối tiêu hao hay phát triển của tạo hoá (造化). Đồng thời hiểu rõ quy luật ngũ hành (五行) sinh khắc chế hoá để biết được hiện tượng bĩ cực thái lai.

Trời bao bọc lấy đất, dương bao bọc lấy âm, số dương nhiều số âm ít, cho nên nói “dương thường hữu dư, âm thường bất túc “ 陽常有餘,陰常不足”. Trong hàng trăm chính bệnh của con người hầu hết là do chân âm kém thuỷ không chế ước được hoả rồi quân hoả, tướng hoả … bốc lên. Trong dịch lý quẻ càn () khi mới sinh là thực (), khi bị tổn thương hào giữa trở thành quẻ ly () (hoả) lại là hư tổn, từ đó hạn chế tính dục (/ - ()), giảm sự thất tình uất kết, luyện tập dưỡng sinh khí công v.v… Khiến cho thuỷ thăng (水昇) hoả giáng (火降) trở thành “thuỷ hoả ký tế - 水火既濟” âm thì tinh hoa dương thì kín. Hoả được yên vị của nó thì mọi biểu hiện đều tốt đẹp. Qua đó ta thấy lý luận của Kinh dịch rất phù hợp với phương pháp luận của Y học và có mối quan hệ hầu như không tách rời được.

Tôn Chân Nhân nói “Không biết Kinh dịch thì không thể nói được là thầy thuốc giỏi” Kinh dịch luận về khí hoá (氣化), khí hoá đã tạo nên vũ trụ (宇宙) hữu hình. Khi tiến từ vô cực (無極) sang thái cực (太極) rồi lưỡng nghi (兩儀) … cho đến khi sự vật hình thành. Con người bẩm thụ được toàn khí của trời đất, tứ khí của ngũ hành (五行), con người là cái tâm của thiên địa (天地). Tâm sinh ra thì ngôn ngữ được lập, lời nói được lập thì mới minh. Cho nên nói con người là vạn vật chi linh (萬物之靈), con người cũng như sinh giới nói chung đều từ vũ trụ mà ra. Xuất phát từ lý thuyết “con người là một vũ trụ nhỏ” “thiên nhân hợp nhất – 天人合一”, các nhà Y học thời xưa đã cho rằng những định luật chi phối vũ trụ cũng đồng thời chi phối con người. Vì vậy triết lý về dịch có mối quan hệ và ảnh hưởng sâu sắc tới Y học cổ truyền.

Dịch có thái cực(太極 )sinh ra lưỡng nghi ( 兩儀 ), lưỡng nghi sinh ra tứ tượng (四象), tứ tượng sinh ra bát quái (八卦), trời trên đất dưới định rõ càn khôn (乾坤), cao thấp đã bày thì quý tiện (貴賤) có vị trí. Động tĩnh (動靜) có qui luật thì phân biệt rõ cương nhu (剛柔). Nhiều chủng loại phát sinh thì sự dữ tốt xấu cũng theo đó mà sinh.

Ở trời thành tượng, ở đất thành hình, càn khôn có vị trí thì sự biến dịch vận hành ở quãng giữa (在天成象,在地成形,變易運行在中間), cho nên trời đất sinh ra thần ra vật, thánh nhân tìm hiểu sâu vào đó. Trời đất vận động thánh nhân bắt chước theo đó. Trời buông ra hình tượng xuất hiện sự lành dữ, thánh nhân theo vào hình tượng đó. Có Hà Đồ, có Lạc Thư thánh nhân theo vào đó rồi thì tìm hiểu ở vạn vật mà vạch ra bát quái để thông cái đức của thần minh (神明), để thuận cái lẽ của tính mệnh (性命). Bát quái vạch xong là đã có hình tượng ở trong đó, rồi lại gấp đôi lên các hào sinh ra ở trong đó, cương nhu cọ vào nhau, bát quái lay động vào nhau sự biến hoá đã có trong đó. Tất cả đều không ra ngoài sự biến dịch.

Người ta bẩm thụ tinh hoa của âm dương ngũ hành (陰陽五行), linh nhất trong muôn vật, được khí trung hoà của trời đất hợp với sự hoá dục của càn khôn, tứ tượng ứng với trời, tứ thế (四勢) ứng với đất. Sự mở đóng của trời đất là sự mở đóng của người ta, nước thuỷ triều lên xuống tức là mạch đập của người ta. Sao bắc thần của trời là gốc của mọi sự vận động, quả tim của con người là chủ của toàn thân. Xem đó thì biết khí của trời tức là khí của người, thể âm tức là thể của người. Triệu Khang Tiết [1] nói “sự giao tiếp với nhau giữa trời với người là rất tinh diệu, thật là đáng sợ”. Thân thể người ta là một trời đất nhỏ, thật không có khoảng cách xa 1 ly, vậy thì cái lý của trời đất có đủ ở dịch, thì cái lý của thân tâm (身心) người ta không đầy đủ ở dịch hay sao?

Huống gì dịch của trời đất là dịch ở người, dịch của thân tâm người ta là dịch ở trong, trong ngoài ai thân hơn, trời người ai gần hơn. Cho nên cần phải tìm ở trời trước rồi sau mới tìm ở người, ở trong nước rồi mới đến ngoài, thế thì dịch của vật lý còn có thể từ từ mà dịch của thân tâm không bỏ qua được. Làm nghề Y là dịch ở thân tâm, y mà không biết dịch thì làm sao mà hành nghề được”.

Qui luật biến hoá là vô cùng mà vạn sinh ở 1, 1 chia thành 2, 2 chia thành 4, 4 chia thành 8, 8 chia thành 16, từ 16 đến 32, 32 đến 64, cho đến 384 hào, 11 520 biến động thì sự huyền diệu của giao cảm, cơ chế của sự hoá sinh, cái số của vạn vật đều từ đó mà ra. Nói rõ ra thì cái gọi là 1 là thái cực của dịch. Thái cực vốn là vô cực, vô cực tức là thái cực, tướng số chưa hình hiện đã có đủ cái lý rồi, hư không mà hoá khí, từ khí để tạo nên hình đó là cái gốc ban đầu của 1 khí tiên thiên”. Thầy thuốc mà biết rõ như thế, thì biết sự sinh sinh hoá là có nguồn gốc mà tất cả ở thân thể chúng ta khi chưa có cơ sở ban đầu được xây dựng nên ở cha, mẹ, để biết mà xem ngay vào hình tượng của sự bẩm thụ.

Nói 1 phân chia thành 2 là sinh lưỡng nghi, thái cực động mà sinh dương, tĩnh mà sinh âm, thiên sinh ở động, địa sinh ở tĩnh, dương là phối ngẫu với âm, âm là nền móng của dương, lấy nguyên chất mà nói là trời đất, lấy công dụng mà nói là càn khôn, lấy đạo lý mà nói là âm dương (太極動生陽靜生陰,天生於動,地生於靜,陽是陰的配偶,陰是陽的基礎,元質以言是天地,功用以言是乾坤,道理以言是陰陽), một động một tĩnh làm gốc rễ lẫn nhau chia ra âm, chia ra dương là thành 2 phía đối đãi nhau thế là bắt đầu có tượng. Nhân hình để tụ khí, nhân khí để hoá thần (人形以聚氣,人氣以化神), mà làm nên cái gốc ban đầu của thể tượng hậu thiên  (nhiên=bỏ chữ nay.Thầy thuốc mà biết điều đó, thì biết được âm dương khí huyết đều có chỗ chung đúc nên.

Nói 2 thành 4 là lưỡng nghi sinh tứ tượng tức là bắt đầu động là dương sinh, động đến cực độ thì âm sinh, bắt đầu tĩnh thì nhu sinh, tĩnh đến cực độ thì cương sinh. Thái, thiếu âm dương là tứ tượng của trời, thái thiếu cương nhu là tứ tượng của đất (動起則生陽,動到極度則生陰,靜起則柔生,靜到極點則剛生。太,少陰陽是天之四象,太少剛柔是地之四象). Tai, mắt, miệng, mũi để ứng với trời. Huyết, khí, xương, thịt để ứng với đất. Thầy thuốc mà biết rõ lẽ là trong dương có âm, trong âm có dương thì hiểu được những trường hợp giống như dương mà không phải dương, giống như âm mà không phải âm; có thể từ đó mà biết được chân, giả, nghịch, thuận để xét ra chỗ ẩn, hiện tàng giữ lẫn nhau.

Nói 4 phân thành 8 là tứ tượng sinh ra bát quái tức là: Càn () 1, Đoài () 2, Ly () 3, Chấn () 4, Tốn () 5, Khảm () 6, Cấn () 7, Khôn () 8. Càn là mạnh mẽ, Khôn thì thuận theo, Chấn là động, Tốn là vào, Khảm là sa xuống, Ly là tốt đẹp, Cấn là dừng lại, Đoài là vui vẻ. Bát quái của Phục Hy (伏羲) chia ra thể tượng của âm dương, Bát quái của Văn Vương (文王) nói lên chỗ tinh vi của ngũ hành. Thầy thuốc mà biết rõ được điều đó, mới biết được trong âm dương lại có âm dương, trong cương nhu lại có cương nhu. Vậy thì cái thế đối đãi, cái lẽ tiêu trưởng, sự huyền diệu của giao cảm là rõ ràng đầy đủ, thì về tính (), lý (), thần (), cơ (), hình (), tĩnh (), bệnh trị của người ta có thể nhân đó mà biết được, điều cốt yếu là thông suốt được nhiều cách biến hoá. Từ đó tứ tượng giao nhau thành 16 việc, bát quái lay động vào nhau mà thành 64 quái, chia ra nội ngoại quái (内外卦) để phối hợp với 6 hào, suy ô số 4 số 9 mà thành số hoá sinh. Nhân vật do đó mà đại thành, vạn tượng (萬象) nhân đó mà đầy đủ. Khi nghiên cứu Kinh dịch trước tiên hãy xem xét đồ tròn thì rõ được nghĩa ấy, đồ này tuy là hình tượng cho tất cả nhưng thiết thực nhất là ở 1 con người. Cho nên nói đồ tiên thiên là vòng tròn ở giữa là tượng của trời, 64 quẻ sắp đặt ở ngoài, soi rõ cái lẽ giao biến của âm dương. Thái cực vận động ở giữa, hình tượng tâm là chủ thể của toàn thân. Càn ở Nam () khôn ở Bắc () là hình tượng ở trên, bụng ở dưới, ly ở Đông (), khảm ở Tây (西) là hình tượng tai mắt bên phải, bên trái .Từ quẻ Phục () đến quẻ Đồng nhân (同人) là nội quái ở vùng quẻ Chấn quẻ Ly, 16 quẻ này là thiếu dương ở trong âm. Ở người ta là khoảng 2x8 = 16 tuổi. Từ quẻ Lâm () đến quẻ Càn, là nội quái ở vùng quẻ Đoài, quẻ Càn, 16 quẻ này là Thái dương (太陽) ở trong dương. Ở người ta là khoảng 4x8 = 32 tuổi. Từ quẻ Cấu () đến quẻ Sư () là nội quái ở vùng quẻ Tốn quẻ Khảm. 16 quẻ này là Thiếu âm (少陰) ở trong dương ở người ta là khoảng 6x8 = 48 tuổi. Từ quẻ Độn () đến quẻ Khôn, là nội quái ở vùng quẻ Cấn, quẻ Khôn 16 quẻ này là Thái âm (太陰) ở trong âm, ở người ta là khoảng 8x8 = 64 tuổi.

Dương sinh ở Tý () mà cực ở Ngọ (), cho nên quẻ Phục gọi là thiên căn (天根) (gốc) đến quẻ Càn là 32 quẻ ứng với phần trước của 1 đối. Âm sinh ở Ngọ mà cực ở Tý, cho nên quẻ Cấn gọi là “nguyệt quật – 月掘” đến quẻ Khôn là 32 quẻ để ứng với phần sau của cuộc đời. Phần trước của đời bắt đầu là hào dương (爻陽) của quẻ Phục, rồi lần lượt tăng thêm dần đến quẻ Càn là dương thịnh đã cực độ, cũng giống như người ta từ thiếu niên đến tráng niên. Nửa đời phần sau bắt đầu ở một hào âm (爻陰) của quẻ Cấn rồi lần lượt sang hao dần đến quẻ Khôn là dương đến hết, cũng giống như người ta từ suy đến già.

Theo chiều dọc mà phán xét, thì tượng ở hào thứ nhất Càn hết ở Ngọ. Khôn hết ở Tý, đúng với thời lệnh đông chí (冬至), hạ chí (夏至) là đường chính giữa của trời đất mà phân chia ra bên tả bên hữu, bên tả chủ thăng, bên hữu chủ giáng. Thăng thì dương ở phía đông nam, chủ về sự phát sinh của mùa xuân mùa hạ để ứng với sự lớn dần của người ta. Giáng thì âm ở phía tây bắc, chủ sự thu liễm của mùa thu, mùa đông để ứng với sự tiêu mòn dần của người ta.

Theo chiều ngang mà xét thì tượng ở hào thứ 2, quẻ Ly hết ở Mão (), quẻ Khảm hết ở Dậu (), đúng tiết xuân phân (春分), thu phân (秋分) là phần nửa của âm mà chia ra trên dưới. Trên là dương dưới là âm. Dương thì mặt trời mọc ở Mão, để ứng với ban ngày thức, âm thì mặt trời lặn ở Dậu, để ứng với ban đêm ngủ. Ở đồ tròn này là đã đầy đủ cái lẽ vận khí (運氣), sự huyền diệu giữa người và trời đất.

Xét ở đồ vuông là hình tượng về đất, Càn bắt đầu ở tây bắc, Khôn tận cùng ở đông nam. Trời bắt túc ở phía tây bắc, cho nên ở đồ tròn dương ở phía đông nam, đất không đày ở phía đông nam, cho nên ở đồ vuông dương ở phía tây bắc. Đó là ý nghĩa vạch quẻ của Phục Hy. Còn về bát quái của Văn Vương, thì vị trí có khác.

Phục Hy là theo ở hiện tượng tự nhiên, cho nên Càn ở trên Khôn ở dưới, Ly bên tả () Khảm bên hữu (). Văn Vương là theo ở số của Hà đồ (河圖) cho nên hoả ở nam, thuỷ ở bắc mộc () ở đông, kim () ở tây. Liên hệ với mọi thứ trong người ta. Thì trời đất là hình thể (形體), Càn Khôn là tính tình âm dương là khí huyết, 2 phía chung một gốc không tách rời nhau. Xét cho rõ nét tất cả đều như vậy.

Lấy hào, tượng (爻象) mà xét thì dương của trời đất, lấy số 6 làm chừng mực, 2 lần của tam tài thành ra sáu hào. 6 hào dương, 6 hào âm thành 12 hào cho nên trời có 12 tháng, người có 12 tạng phủ. Trời có 12 chỗ nhập nguyệt hội, người có 12 kinh, trời có 12 thần, người có 12 khớp biết rõ đó là hình tượng vinh vệ (榮衛:血是榮,氣是衛) được chu lưu kinh lạc biểu lý (經絡表). Lấy tạng tượng mà nói thì từ hào sơ lục ( ) đến hào thượng lục (上六) (6 hào ở quẻ âm) là âm, là tạng hào sơ lục ở chỗ của mệnh môn, hào lục nhị (六二) chỗ ở của tỳ (), hào ngũ lục (五六) chỗ ở của tâm (), hào thượng lục chỗ ở của phế (). Tứ hào sơ cửu (初九) đến hào thượng cửu (上九) (6 hào ở quẻ dương) là dương, là phủ; hào sơ cửu ngang bàng quang (膀胱) hào cửu nhị (九二) ngang đại trường (大腸), hào cửu tam (九三) ngang tiểu trường (小腸), hào cửu tứ (九四) ngang đởm (), hào cửu ngũ (九五) ngang vị (), hào thượng cửu (上九) ngang tam tiêu (三焦). Biết rõ điều đó thì âm dương của tạng phủ đã có hình tượng ở trong rồi.

Nguồn : Nhân tử Nguyễn Văn Thọ

Chuyển lên WebQDY : VHN



[1] Triệu Khang Tiết đời Tống 1011-1071




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa