Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

CHUYỂN THƯƠNG ĐƯỜNG KHÔNG


 

Giáo sư Belevetin A.B và CS

 

Tạp chí Y học Quân sự Liên bang Nga, 1/2010

 

Lược dịch: PGS. Trịnh Văn Luận

 

 

 

Chuyển thương đường không đã được nhiều nước sử dụng trong chiến tranh. Hiện nay chuyển thương đường không còn được sử dụng trong thời bình để khắc phục hậu quả thảm họa.

Mặc dù đã có nhiều kinh nghiệm trong chuyển thương đường không, nhưng cũng còn nhiều vấn đề phải nghiên cứu, nhất là vấn đề sinh lý bệnh đối với nạn nhân.

1. Những vấn đề sinh lý bệnh trong chuyển thương đường không:

Những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe trong chuyển thương đường không là giảm áp suất không khí, giảm áp suất oxy, tốc độ, tiếng ồn, rung xóc, điều kiện vi khí hậu...

- Giảm áp suất không khí: độ cao của các loại máy bay sử dụng trong chuyển thương có thể đạt 11 km đối với máy bay và 6 km đối với trực thăng. Bệnh giảm áp trên cao có thể xảy ra khi hở khoang kín máy bay ở độ cao 7-8 km. Giảm áp suất không khí có thể gây ra rối loạn tuần hoàn, tắc mạch do khí áp, trướng bụng, bệnh về tai, xoang, đau răng do khí áp, chấn thương các nội tạng rỗng do giảm áp suất đột ngột. Giảm áp suất không khí rất nguy hiểm đối với các vết thương hoặc phẫu thuật ở nhãn cầu, sọ não, lồng ngực và cả đối với vết thương phần mềm hoại thư sinh hơi. Khi áp suất không khí bị giảm đột ngột (dưới 1 giây đồng hồ) trong sự cố máy bay có thể gây tổn thương phổi, ống tiêu hóa, chấn thương chi thể.

- Giảm áp suất oxy: giảm áp suất không khí gây ra giảm oxy, đặc biệt trong các trường hợp phù phổi, viêm phổi, lao phổi, tràn khí phế mạc, tổn thương ở lồng ngực và phổi. Có thể xảy ra các loại giảm oxy khác như giảm oxy do rối loạn tuần hoàn, thiếu máu, nhiễm độc, nhiễm khuẩn.

- Tốc độ: 15% thương binh, bệnh binh (TBBB) vận chuyển bằng đường không có thể bị say máy bay do kích thích tiền đình và các nội tạng trong ổ bụng. Say máy bay nguy hiểm đối với thương binh có cố định xương hàm bằng nẹp sợi kim loại vì có thể gây ngạt bởi chất nôn. Trong trường hợp này nên sử dụng loại nẹp đàn hồi hoặc phải có dụng cụ để tháo nẹp kim loại. Chứng say máy bay không lợi đối với thương binh hàm mặt, thương binh có tổn thương ở vùng bụng. Cần đặt thương binh nằm ở tư thế đầu và ngực hơi cao cho dễ nôn.

- Giảm độ ẩm không khí: ở trên cao các chất lỏng dễ bốc hơi làm khô các vết thương, vết bỏng. Cần đề phòng khô giác mạc ở người hôn mê, khô đường thở khi mở khí quản bằng cách băng ẩm ở mắt, cho thở oxy ẩm.

2. Đặc điểm tổ chức cứu chữa trên máy bay:

Phạm vi cứu chữa trong chuyển thương đường không phụ thuộc vào đặc điểm tổn thương, khả năng của đội hậu tống và trang bị kỹ thuật, điều kiện bay cao, bay xa.

Đối với thương binh bị thương ở bụng và ngực, trên độ cao 1500-2000m cần phát hiện kịp thời triệu chứng thiếu oxy và sử dụng máy thở oxy, hút khí và dịch tiết ở khoang phế mạc. Đối với thương binh ngực có thể có tăng huyết áp bù trừ do thiếu oxy. Nếu huyết áp hạ, cần đề phòng xuất huyết ở phổi.

Trong chuyển thương bằng máy bay thường sử dụng loại máy cung cấp oxy cho nhiều người. Nếu chuyển thương bằng trực thăng có thể sử dụng máy cung cấp oxy cho cá nhân.

Thương binh bị vết thương bụng thường có hạ huyết áp khi được vận chuyển sớm ngay sau khi bị thương hoặc ngay sau phẫu thuật mặc dù không có chảy máu trong. Đối với các thương binh này, trước khi bay nên phong bế Novocaine cạnh thận, cho thuốc giảm đau. Nếu huyết áp hạ nhiều, cần truyền dịch, máu, cho thuốc trợ tim, thở oxy. Nếu có trướng bụng cần hút khí ở đại tràng bằng ống hút.

Đối với thương binh chi có thể khắc phục cơn đau bằng thuốc giảm đau, phong bế Novocaine. Đề phòng giảm oxy bằng cách truyền máu trước khi vận chuyển và cho oxy trong khi bay.

Cần chú trọng theo dõi ngạt do chất nôn đối với thương binh có nẹp cố định ở hàm hoặc bị thương ở vùng cổ, khí quản. Trước khi bay nên đặt ống thông đường tiêu hóa.

Trước khi chuyển thương đường không cần phải ổn định tình trạng thương binh, thường chống chỉ định chuyển trong các trường hợp sau: tiếp tục chảy máu trong, chảy máu ngoài không cầm được, sốc chấn thương nặng, thiểu năng tim mạch hô hấp, thương binh bụng sau mổ còn trướng bụng, thương binh ngực chưa dẫn lưu tràn khí phế mạc, nhồi máu cơ tim cấp, đang có cơn tăng huyết áp, tình trạng kích thích co giật, sau chụp não bơm khí (chống chỉ định tuyệt đối trong 7 ngày sau khi chụp), bó bột (nên cắt bột để phòng phù nề). Cần kiểm tra áp suất các loại nẹp khí, bao khí ống nội khí quản, độ kín chai dịch truyền trong trường hợp giảm áp suất không khí.

Trong khi chuyển thương cần chăm sóc thương binh tùy theo tổn thương. Đối với thương binh đầu nếu có hôn mê nên đặt ống nội khí quản và hô hấp nhân tạo, cho thuốc giãn cơ. Đối với chấn thương sọ não cho thuốc chống nôn. Để cố định chấn thương cột sống nên sử dụng đệm chân không. Đối với chấn thương ngực có gãy nhiều xương sườn và tràn khí phế mạc cần dẫn lưu khoang phế mạc. Đối với bỏng cần chuẩn bị máy thở, theo dõi tim mạch, truyền dịch, đề phòng lạnh. Cần có sẵn các phương tiện để giảm áp khi có trướng bụng (ống dẫn lưu, ống thụt). Chuẩn bị các loại thuốc đề phòng say máy bay.

3. Tổ chức chuyển thương đường không hiện nay:

Chuyển thương đường không góp phần nâng cao hiệu quả cứu chữa TBBB. Chuyển thương đường không có nhiều đặc điểm về tổ chức (chuẩn bị huấn luyện, trang bị kỹ thuật, chuẩn bị sân bãi, đường hạ cánh cất cánh, triển khai trạm quân y sân bay, chuẩn bị bãi để chuyển thương binh lên và xuống máy bay). Loại máy bay được sử dụng để chuyển thương là máy bay chuyên dụng hoặc là máy bay được cải tạo để chuyển thương có trang bị kỹ thuật cần thiết để cấp cứu.

ở Liên bang Nga, đã sử dụng các loại máy bay trực thăng mới trong chuyển thương. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định trong khi bay có thể tiến hành các loại phẫu thuật cấp cứu và hồi sức trên trực thăng Mi-8MB Bisectrix, máy bay AN-26M Saver và máy bay IL-76MD Bistouri. Trên máy bay Mi-8MB có bàn mổ, máy gây mê, các máy theo dõi chức năng, có thể cứu chữa đầu tiên và một phần cứu chữa chất lượng do bác sĩ tiến hành, truyền dịch, hô hấp nhân tạo. Trên máy bay AN-26M có bàn mổ, khoang để mổ cấp cứu hồi sức, khoang điều trị tích cực. Trên máy bay IL-76MD có 3 môđun phẫu thuật, chống sốc, hồi sức, có hệ thống điện, nước, điều hòa, cung cấp oxy, máy theo dõi bệnh nhân, máy gây mê, máy thở, máy X quang, 2 bàn mổ, dụng cụ mổ, thuốc để cấp cứu hồi sức, điều trị liên tục trên máy bay.

Trong chuyển thương đường không, công tác phân loại mang tính chất dự đoán và vận chuyển. Thương binh được chia thành các nhóm vận chuyển cần và không cần người hậu tống, nhóm không có chỉ định vận chuyển đường không (nặng, hấp hối...). Cần vận chuyển đầu tiên là những thương binh có vết thương xuyên và chấn thương kín nặng (sọ não, cột sống, tủy sống, ngực, bụng, chậu), nhồi máu cơ tim, sau cơn tăng huyết áp, viêm tim-màng ngoài tim nặng, viêm não-màng não.

Sắp xếp thương binh lên máy bay có thể tiến hành bằng phương pháp thủ công hoặc bằng phương tiện cơ học (cần trục, xe nâng, thang máy). Để đầu thương binh nhìn về hướng bay, bắt đầu xếp ở tầng trên rồi đến tầng giữa và tầng dưới. Khi chuyển thương binh xuống máy bay làm theo chiều ngược lại. Thương binh nặng xếp ở tầng dưới gần nhân viên quân y, bộ phận bị thương để ở phía lối đi cho tiện chăm sóc. Cáng và người phải được cố định bằng dây an toàn.

Khi vận chuyển bằng máy bay có sức chứa lớn (IL-76, TU-154, AN-12, AN-24T, Mi-6, Mi-26...) trên quãng đường dài, cần bảo đảm ăn uống, phương tiện điều trị và chăm sóc. Một tổ hậu tống thương binh trên máy bay gồm bác sĩ, y sĩ, y tá, kỹ thuật viên với số lượng thay đổi tùy điều kiện cụ thể. ở cấp chiến thuật có 1-2 phi đội trực thăng Mi-8, mỗi phi đội có 20 trực thăng (mỗi trực thăng có 1 y tá hoặc y sĩ). ở cấp chiến dịch có 1 trung đoàn chuyển thương gồm 45 trực thăng Mi-8 (mỗi trực thăng có 1 y tá hoặc y sĩ) và 15 trực thăng Mi-8M (mỗi trực thăng có 1 bác sĩ và 1 y tá hoặc y sĩ). ở cấp chiến lược có 1 trung đoàn chuyển thương gồm 20 máy bay AN-24TC (mỗi máy bay có 1 y tá  hoặc y sĩ) và 10 máy bay AN-26M (mỗi máy bay có 2 bác sĩ, 3 y tá hoặc y sĩ). Như vậy, để hậu tống TBBB trong hệ thống chuyển thương đường không ở cả 3 cấp có 185 người, trong đó có 35 bác sĩ và 150 y tá hoặc y sĩ.

Huấn luyện quân y trong chuyển thương đường không gồm các vấn đề lý thuyết và thực hành về y học hàng không, các chuyên đề sinh lý bay, cứu chữa trên máy bay, chỉ định và chống chỉ định vận chuyển, sắp xếp thương binh lên xuống máy bay. Kỹ thuật viên cần được huấn luyện sử dụng các trang bị kỹ thuật y học trên máy bay, chương trình huấn luyện được tiến hành tại các labô y học hàng không, các bệnh viện không quân, các ban giám định y học hàng không, ở khoa y học hàng không và y học vũ trụ, ở Khoa Tổ chức và chiến thuật quân y Học viện Quân y Kirốp.

Tổ chức chuyển thương đường không cần được chuẩn bị và làm kế hoạch chu đáo. Các nội dung quan trọng trong kế hoạch là: chỉ huy chuyển thương, sử dụng phương tiện bay, lực lượng phương tiện quân y, phân loại TBBB, chọn hướng bay, chọn các chuyên viên huấn luyện bác sĩ, y tá, kỹ thuật viên, tổ chức biên chế tổ hậu tống, thay thế và dự trữ vật tư quân y.

Chuyển thương đường không trong thời bình và thời chiến phải được thực hiện bởi các cơ quan chỉ huy thuộc Bộ Quốc phòng; Tổng cục Quân y (cơ quan điều trị dự phòng) chịu trách nhiệm chỉ huy, tổ chức kế hoạch chuyển thương, hiệp đồng với chỉ huy các tập đoàn quân, các sư đoàn, với không quân, với chỉ huy và cơ sở quân y cấp dưới trực tiếp tổ chức chuyển thương.

Tóm lại, chuyển thương đường không gồm tổng hợp các biện pháp tổ chức, chuyên môn kỹ thuật cần được thực hiện có hiệu quả để bảo đảm chất lượng cứu chữa vận chuyển TBBB.

Nguồn: Tạp chí YHQS số 274( 7-8/2011) trang 58-59




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa