Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Chuyện những “hải y” trên hành trình vạn lý


Đường Hồ Chí Minh trên biển là tên gọi của tuyến đường vận tải bí mật trên biển Đông được thành lập ngày 23 tháng 10 năm 1961, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để vận chuyển vũ khí từ miền Bắc Việt Nam vào chi viện cho quân giải phóng miền Nam. Có mặt trên những chuyến tàu đặc biệt này là những thủy thủ ngoài sự kiên trung, quả cảm, họ còn phải vượt qua các bài kiểm tra về sức khỏe ngặt nghèo, những khóa huấn luyện sinh tồn trong những thời khắc khốc liệt nhất giữa muôn trùng sóng gió. Họ là những nhà hàng hải tài ba và cũng là những “hải y” chuyên nghiệp.

 Một trong những chuyến tàu Không số chở vũ khí vào chiến trường miền Nam.         Ảnh: Tư liệu

Một viên thuốc kèm... 1 ký bộc phá!

Ít người biết rằng, trước khi đoàn tàu Không số ra đời, có 5 con thuyền gỗ đầu tiên của Nam bộ đã vượt biển ra Bắc vừa xin vũ khí vừa làm nhiệm vụ mở đường lịch sử. Không la bàn, không hải đồ, không máy nhưng 5 con thuyền đã tới được đích, khai thông đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Và những người nhận sứ mệnh lịch sử ấy được đào tạo không chỉ đơn thuần là những thủy thủ giỏi mà họ còn là những “hải y” (y tá trên biển) cừ khôi trong mỗi chuyến đi. Theo nguồn tư liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tháng 7/1959, Tiểu đoàn vận tải biển 603 được thành lập, đóng tại cửa biển sông Gianh, Quảng Bình với tên gọi là “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”. Thuyền được ngụy trang giống thuyền đánh cá của ngư dân miền Nam. Ngày 1/6/1961 đã đi vào lịch sử khi thuyền Bến Tre 1 - con thuyền đầu tiên trong số 5 con thuyền Nam bộ xuất bến Thạnh Phú (Bến Tre) vượt biển thành công ra Bắc vượt qua tọa độ lửa của hạm đội 7 vốn chế ngự biển Đông từ trước đến nay. Với sự trợ giúp của Phòng Tuyên huấn hải quân thuộc Bộ tư lệnh Hải quân, phóng viên báo Sức khỏe&Đời sống đã có cuộc trao đổi với cựu binh Nguyễn Văn Đức - người có mặt trên thuyền Bến Tre 1. Ông nhớ lại: “Tôi cùng 5 đồng chí nữa đi trên thuyền Bến Tre 1. Gọi là thuyền cho oai chứ kỳ thực nó là chiếc ghe buồm nhỏ, ngồi trên thuyền có thể khoát nước biển rửa tay được. Thuyền không máy, không la bàn, không hải đồ, chúng tôi dong buồm, cứ dõi theo sao Bắc Đẩu mà đi. Thuyền xuất bến Thạnh Phú ngày 1/6/1961. Khi ra khỏi bến được 3 tiếng gặp cơn giông, gạo củi ướt hết, 6 anh em phải nhịn đói 2 ngày mới khắc phục được. Có lúc chúng tôi phải hạ buồm thả trôi. Anh em xác định bằng bất cứ giá nào cũng phải qua vĩ tuyến 17 vào đêm thứ 7 và là ngày đầu tháng vì thời điểm này lính ngụy nghỉ hết, vì đầu tháng chúng lĩnh lương có nhiều tiền nên đi chơi nhiều hơn, tuần tiễu ít hơn”. Ông tâm sự thêm: “Phải nói thật, lúc đó với sóng gió giông tố của biển nhất là những khi biển động, anh em không kiệt sức lý do cũng bởi trước khi đi mỗi anh em thủy thủ đoàn đều được lãnh đạo chăm sóc sức khỏe kỹ lưỡng, những vỉ thuốc bổ tốt nhất do Liên Xô, Trung Quốc và các nước bạn viện trợ đều ưu tiên dành cho anh em đi chuyến thăm dò đó. Ngoài ra, tất cả thủy thủ đoàn của tàu Không số đều được huấn luyện bắt và lựa chọn những hải vật đánh bắt được từ biển làm… thuốc chữa bệnh!”.

 Chuyển hàng xuống tàu.

Theo ký ức của thuyền trưởng Nguyễn Sơn (còn gọi là Bốn Phe) người trực tiếp dẫn dắt chuyến vượt biển của thuyền Bà Rịa thì chuyến đi cực kỳ vất vả và mất nhiều thời gian nhất. Chưa đến đích nhưng nước uống, gạo, dầu đều hết. Khát đến cháy họng, nhưng những bài học về kỹ năng sinh tồn trên biển mà họ đã được đào tạo tại Liên khu 5 đã giúp họ sống sót. Anh em thủy thủ nghĩ ra cách dùng lửa hâm nước biển lấy hơi nước để uống.  Tuy nhiên, hơi nước thu được rất ít, 6 người thay nhau liếm mỗi người một ít cho đỡ khát. Cũng theo hồi ức của vị thuyền trưởng này, khi đã được lựa chọn là thủy thủ trên các con tàu không số thì mỗi thủy thủ đều trở thành những “điều dưỡng viên” chuyên nghiệp trong những chuyến đi ấy. Các anh tự đảm bảo chế độ dinh dưỡng từ chính những chú cá mắc lưới trên biển, ốm cũng rất ít dùng thuốc và chỉ sử dụng trong những tình huống thủy thủ phải cấp cứu. Còn phần lớn cơ số thuốc anh em được trang bị đều được đóng hộp cẩn thận và luôn cất dưới những khối bộc phá?! Lý giải việc này, thuyền trưởng Nguyễn Sơn nói: “Đó là chỉ thị của Đại tướng, Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp cho Bộ Tổng tham mưu khi thành lập “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”. Đại tướng dặn đi dặn lại: “Việc mở đường không được ai biết… Không để lọt vào tay địch một người, một hiện vật. Một vỏ thuốc cũng có thể tạo nên một tang chứng làm hỏng việc lớn…”. Và như vậy, mỗi khi sử dụng xong một vỉ thuốc, điều đầu tiên của các thủy thủ là đưa những vỏ thuốc đó vào đúng vị trí cất ban đầu.

 Hành trình vạn chiến công

Sau các chuyến tàu thăm dò là những chiến công thầm lặng nối liền những chiến công đã viết nên huyền thoại về con đường biển chiến lược. Mặc dù lúc đầu chỉ là những chiếc thuyền thô sơ, trọng tải nhỏ, với lộ trình bám dọc bờ biển, rồi nhanh chóng phát triển, có hàng trăm chiếc tàu sắt trọng tải lớn không những chỉ hoạt động ở vùng biển của ta mà còn vươn ra hải phận quốc tế. Những con tàu không số đều chở nặng vũ khí, trang bị, được ngụy trang và nghi trang khéo léo, lúc hợp pháp lúc bất hợp pháp. Cùng với đó là phương thức vận chuyển cũng được phát triển ngày càng linh hoạt, sáng tạo: lúc biển xa, khi biển gần và sự nhạy bén trong việc lựa chọn bến bãi, lợi dụng địa hình, thủy triều, thời tiết... đã giúp chúng ta vượt qua những phòng tuyến nghiêm ngặt của kẻ thù, cung cấp kịp thời vũ khí, trang bị cho tuyến lửa miền Nam. Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt với kẻ thù, với thiên nhiên, với mọi khó khăn, thử thách, dường như vượt qua mọi giới hạn chịu đựng của con người. Nhưng các chiến sĩ của những con tàu không số đã khéo léo nghi binh, lừa địch, táo bạo, bất ngờ, đi trong lòng địch, càng đi, càng tỉnh táo, quyết đoán.

 Tượng đài di tích đường Hồ Chí Minh trên biển tại Bến tàu Không số Đồ Sơn, Hải Phòng.

Âm thầm, lặng lẽ chở nặng nghĩa tình, vũ khí trang bị từ miền Bắc đến với miền Nam, đường Hồ Chí Minh trên biển cũng gánh chịu không ít những tổn thất, hy sinh. Đó là việc bắt buộc phải cho nổ tàu 143 ở Vũng Rô (2/1965); có hàng chục chuyến tàu xuất bến phải quay về. Trong số 168 con tàu đã ra đi từ năm 1966 - 1972, có 8 con tàu đã phải phá hủy để xóa dấu vết nhằm bảo đảm bí mật tuyệt đối của tuyến đường huyết mạch. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này, “đã có 117 cán bộ, chiến sĩ hy sinh quên mình trên biển”. Và như vậy cùng đồng nghĩa với từng ấy chiến sĩ được coi là những “hải y” trên biển đã nằm lại mãi mãi dưới lòng biển sâu. Chính các anh cùng đồng đội đã dệt nên huyền thoại bằng tuổi thanh xuân, nhiệt huyết của mình cho ngày toàn thắng.

Văn Hậu

Chuyển lên WebQDY : Văn Hữu Nhân . Phạm Ngọc Đính




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa