Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Bác sĩ Hồ Đắc Di - người gắn cả cuộc đời với Trường Đại học Y Hà Nội


Bác sĩ Hồ Đắc Di sinh ngày 8/4 năm Canh Tý - 1900, ở Huế, thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc. Bà nội ông là con gái của Tùng Thiên Vương Miên Thẩm, một nhà thơ lỗi lạc của đất Thần Kinh. Cha ông là Lễ bộ thượng thư Hồ Đắc Trung. Ông có hai anh ruột là Thượng thư. Đó là cử nhân nho học Hồ Đắc Khải và Tổng đốc, Tiến sĩ luật khoa Hồ Đắc Điềm. Hai người em trai là kỹ sư khoáng học Hồ Đắc Liên và Tiến sĩ dược khoa Hồ Đắc Ân.

Bác sĩ Hồ Đắc Di là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bác sĩ phẫu thuật và là người Việt Nam duy nhất được công nhận học hàm Giáo sư đại học thời thuộc Pháp. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 ông được giao trọng trách Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội cho đến ngày nghỉ hưu 1978.

 

  Giáo sư, Bác sĩ Hồ Đắc Di (bìa trái) hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (1951).                    Ảnh tư liệu

Hăm hở đi theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Giáo sư, Bác sĩ Hồ Đắc Di cùng với những đồng nghiệp của mình đã có nhiều đóng góp tích cực. Ngay từ tháng 1/1947, đoàn phẫu thuật của Bác sĩ Tôn Thất Tùng đóng ở Cự Đà, đoàn của Bác sĩ Nguyễn Hữu đóng ở Kim Lũ, đoàn của Bác sĩ Hồ Đắc Di đóng tại Vân Đình. Chính tại nơi đây, ông đã đọc diễn văn tuyên bố trường đại học y khoa vẫn tiếp tục giảng dạy.

Chiến sự ngày càng lan rộng, đoàn phẫu thuật của ông phải chuyển về Độc Tín, đoàn của Bác sĩ Tôn Thất Tùng chuyển về Bùng Xá, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Tháng 4/1947, nhận lệnh của Hồ Chủ tịch, các đoàn di chuyển lên Tuyên Quang tiếp tục làm công việc phẫu thuật và giảng dạy ở Bệnh viện Tuyên Quang. Tháng 5/1947, trường chuyển lên Làng Ải (Chiêm Hóa) cách thị xã khoảng 70 km. Tại đây, ông đã cùng Giáo sư, Bác sĩ Tôn Thất Tùng xây dựng trường đại học y khoa kháng chiến.

Ngày 6/10/1947, trường khai giảng niên học đầu tiên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến dự. Bác sĩ Hồ Đắc Di dọc diễn văn, nói lên ý nghĩa và yêu cầu của ngành học y trong kháng chiến. Ngoài việc đào tạo bác sĩ tương lai, trường đại học y khoa kháng chiến còn mở nhiều tuyến mổ xẻ để kịp thời phục vụ thương, bệnh binh từ tuyến lửa chuyển về. Không bao lâu, giặc Pháp đánh vào Làng Ải, trường phải chuyển về làng Bình, cách đó 2 cây số. Sau khi đốt phát hết các cơ sở của ta, bọn chúng bắt loa kêu gọi đích danh các Bác sĩ Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng và nhiều trí thức khác ra hàng và hứa hẹn sẽ đưa về Hà Nội an toàn...

Mặc cho bọn chúng hao công tốn sức, trường chuyển về Trung Giáp và tiếp tục công việc của mình. Ít lâu sau giặc Pháp rút khỏi Làng Ải, trường lại trở về nơi cũ. Do yêu cầu của cuộc kháng chiến, Bác sĩ Hồ Đắc Di cùng đồng nghiệp quyết định cho sinh viên chỉ học một năm rồi gấp rút ra phục vụ các mặt trận. Thời gian định cư ở đây không bao lâu, giặc Pháp lại tấn công ồ ạt vào căn cứ, trường phải chuyển lên Chiến khu Việt Bắc. Ở ATK (an toàn khu) Bác sĩ Hồ Đắc Di đã tích cực trong việc xây dựng, đào tạo cán bộ y tế cho đất nước.

Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, Trường Y khoa Việt Bắc nhận lệnh của Chính phủ về tiếp quảng trường y khoa Hà Nội, Bệnh viện Phủ Doãn. Từ đây, với cương vị Hiệu trưởng, Bác sĩ Hồ Đắc Di đóng góp công sức mình cho nền y học nước nhà, từ đào tạo sinh viên đến nghiên cứu khoa học...

Hiện nay, Trường Y Hà Nội có một giảng đường mang tên Hồ Đắc Di, để nhắc nhở các thế hệ sinh viên noi theo tấm gương của thầy mình.

Bác sĩ Hồ Đắc Di mất năm 1984. Trong cuộc đời cống hiến của Bác sĩ Hồ Đắc Di đối với nền khoa học của nước nhà, Bách khoa toàn thư Wikipedia đã viết: "Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa làm tại Paris, Giáo sư Hồ Đắc Di là người đầu tiên sáng tạo một phương pháp mổ dạ dày (nối thông dạ dày - tá tràng) để điều trị chứng hẹp môn vị do bệnh loét dạ dày tá tràng gây ra, thay thế cho phương pháp cắt bỏ dạ dày vẫn dùng trước đó. Đây là cách điều trị bảo tồn, được mang tên ông, được nhiều sách giáo khoa, nhiều công trình nhắc đến và thừa nhận giá trị trong suốt 30-40 năm. Các công trình khoa học sau này của Giáo sư Hồ Đắc Di (1937-1945) thường đứng chung tên với đồng nghiệp như: Giáo sư Huaret, Giáo sư Meyer May... với sự cộng tác của cộng sự và học trò như: Vũ Đình Tùng, Tôn Thất Tùng...

Với nội dung giải quyết các bệnh rất đặc trưng của một nước nhiệt đới nghèo nàn và lạc hậu, viêm tụy có phù cấp tính do ông phát hiện từ 1937 đã mở đường cho các kết quả nghiên cứu rực rỡ sau này của Tôn Thất Tùng. Cách điều trị bằng phẫu thuật các biến chứng viêm phúc mạc do thương hàn cũng đóng góp lớn trong mở đường nghiên cứu thủng túi mật, hoặc nêu một phương pháp mổ mới, trong phẫu thuật sản khoa. Các phân tích thống kê phẫu thuật, cùng với Huard, được đăng ở báo y học Viễn Đông ấn hành ở Paris, rất được các nước nhiệt đới coi trọng và tham khảo rộng rãi. Giáo sư là người đầu tiên ở nước ta nghiên cứu tình trạng sốc do chấn thương, được báo trên đăng tải (1944) cùng nhiều công trình có giá trị khác như: phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc ở Bắc Kỳ (1944) phẫu thuật chữa loét dạ dày - tá tràng ở Bắc Kỳ (1944).

Tạp chí Viện Hàn Lâm phẫu thuật đăng "Thủng túi mật hiếm gặp (1937) viêm phúc mạc do thủng ruột trong thương hàn (1939)... Báo y học Hải ngoại đăng: "Một kỹ thuật mới mổ lấy thai nhi". Với 21 công trình hiện tìm được trong 37 công trình đã công bố, ông là nhà phẫu thuật đầu tiên xứng đáng là bậc thầy đầu tiên với các công trình mở đường cho những nghiên cứu sau này, xứng đáng được hội đồng giáo sư (toàn người Pháp) đánh giá cao và được bầu chọn là "giáo sư người Việt đầu tiên". Ghi nhận công lao của Giáo sư, Bác sĩ Hồ Đắc Di, Nhà nước đã tặng ông Huân chương Độc lập hạng nhất, giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học - kỹ thuật./.                                                                                                                                 Nguyễn Bá Luật

Chuyển lên WebQDY : Văn Hữu Nhân . Phạm Ngọc Đính




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa