Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Hội nghị quân y toàn quân lần thứ IX năm 1951 - Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Duy Tuân Phó giáo sư Phạm Văn Hựu


Trong lịch sử 65 năm xây dựng ngành và phục vụ Quân đội của Quân y Việt Nam, có lẽ Hội nghị quân y toàn quân lần thứ IX đầu năm 1951 là Hội nghị có tầm quan trọng và ảnh hưởng to lớn nhất: Hội nghị đã quyết định những vấn đề xây dựng ngành về chính trị-tư tưởng, tổ chức và lề lối làm việc trong chiến tranh, tạo nên những chuyển biến cơ bản, đáp ứng yêu cầu phục vụ Quân đội trong giai đoạn chuyển mạnh sang tác chiến vận động, dẫn tới thắng lợi lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp.

 

1.     Bối cảnh lịch sử.

      Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam phải bước ngay vào cuộc kháng chiến chống Pháp trong những điều kiện cực kỳ khó khăn: đất nước bị bao vây, không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với các nước xã hội chủ nghĩa, lực lượng vũ trang mới được xây dựng còn non yếu, kinh tế nghèo nàn vv… Quân y Việt Nam mới được thành lập cũng nằm trong hoàn cảnh chung của đất nước: lực lượng chuyên môn yếu và thiếu, chưa có kinh nghiệm về bảo đảm quân y trong chiến tranh, chưa có lý luận về y học quân sự, cơ sở vật chất nghèo nàn, thuốc men dụng cụ y tế thiếu. Không ít trường hợp, y tá đơn vị đã phải pha một viên quinacrin với nước mưa thành thuốc tiêm  để sử dụng cho nhiều bệnh nhân. Sự non yếu về tổ chức và chỉ huy quân y trong chiến đấu đã bộc lộ rõ trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, chiến dịch vận động quy mô lớn đầu tiên của Quân đội ta, như lịch sử quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập I, PhạmVăn Hựu chủ biên, đã viết:

“ Bố trí các tuyến quân y: còn xa trận địa, nhất là các trạm phẫu thuật Trung đoàn. Nhiệm vụ trao cho các tuyến cũng không rõ ràng, rành mạch (trạm Đại đội và Tiểu đoàn có những công tác trùng nhau). Đội phẫu thuật Trung đoàn: Tổ chức chưa thống nhất, sự phân công chưa hợp lý, do đó hoạt động còn trục trặc, chưa được thuần nhất, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận (buồng mổ, buồng điều trị) hay giữa các nhân viên” (tài liệu đã dẫn, trang 231).

     Chỉ từ sau chiến thắng trong Chiến dịch Biên Giới cuối năm 1950, giải phóng các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, chúng ta mới có điều kiện tiếp xúc và nhận viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là của Trung Quốc. Quân y Việt Nam nhận được nhiều viện trợ về thuốc, nhất là thuốc chiến thương và thuốc sốt rét, về trang bị y tế, nhất là dụng cụ ngoại khoa. Ba cố vấn quân y Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc được cử sang Việt Nam trực tiếp giúp Quân y là Lâm Quân Tài (cố vấn cho Cục quân y), Vu Thúc Thanh (cố vấn ngoại khoa cho các Đội điều trị) và đồng chí Đặng (cố vấn xét nghiệm vi sinh vật). Đồng chí Lâm Quân Tài đã truyền  đạt tới Quân y Việt Nam những kinh nghiệm tiên tiến của Y học quân sự xã hội chủ nghĩa, thông qua những lý luận về tổ chức quân y thời chiến của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Những bài học kinh nghiệm về công tác quân y trong các giai đoạn hoạt động trước, nhất là trong chiến dịch Biên Giới, kết hợp với những kinh nghiệm tiếp thu được của Quân y Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc là cơ sở để Cục quân y chuẩn bị nội dung Hội nghị quân y lần thứ IX.

 

2.     Hội nghị Quân y lần thứ IX.

 

    Lịch sử Quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập I, viết:

Sau các chiến dịch của năm 1950 và 1951, một yêu cầu khách quan đối với ngành quân y là phải nhanh chóng chuyển biến về mọi mặt để phục vụ quân đội được tốt hơn.

     Hội nghị quân y toàn quân lần thứ IX khai mạc ngày 16-2-1951 là một Hội nghị lịch sử, mở đầu cho cuộc chuyển biến đó trong ngành. Hội nghị quân y toàn quân lần thứ IX là hội nghị quân y toàn quân lớn nhất từ đầu kháng chiến đến nay. Hội nghị có mặt gần đủ các cán bộ quân y chủ trì từ các Bệnh viện, Đội điều trị, Kho xưởng, Trường lớp, Trung đoàn, Đại đoàn, Quân khu, bao gồm 133 đại biểu của các ngành điều trị, sản xuất thuốc, phòng bệnh, huấn luyện, các cán bộ y, dược, chính trị, hậu cần ”.

     Những nghị quyết của Hội nghị quân y toàn quân lần thứ IX có thể khái quát trong 3 nội dung lớn sau:

 

            Xác định 5 phương châm y học cách mạng.

    Hội nghị đã thảo luận và thông qua 5 phương châm y học cách mạng, làm cơ sở chỉ đạo tư tưởng và hoạt động của toàn ngành. 5 phương châm đó là:

1.     Chính trị làm gốc, tư tưởng dẫn đầu..

2.     Phòng bệnh là chính, chữa bệnh là phụ.

3.     Điều trị toàn diện.

4.     Đông Tây y kết hợp.

5.     Tiết kiệm xây dựng ngành.

     Việc xác định 5 phương châm y học cách mạng là hết sức cần thiết trong hoàn cảnh ngành quân y Việt Nam còn non trẻ, những bác sĩ, dược sĩ và y sĩ chủ chốt của ngành đều là những người được đào tạo dưới thời Pháp thuộc, tại các trường của thực dân Pháp, tuy có nhiệt tình cách mạng, giầu lòng yêu nước, nhưng đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng y học tư sản. Để xây dựng cho cán bộ nhân viên quân y tinh thần yêu thương và hết lòng phục vụ bộ đội, trong thư gửi Hội nghị quân y toàn quân lần thứ VI ngày 15 tháng giêng năm 1948, Hồ Chủ tịch căn dặn: “Lương y kiêm từ mẫu, nghĩa là người thày thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”. Hội nghị y tá đại đội do Cục quân y tổ chức trong các tháng 6 và 7 năm 1949 đã học tập và thảo luận tài liệu Tư cách và đạo đức người Quân y cách mạng, nêu cao tinh thần Quân y vì bộ đội, vì nhân dân. Khi đề ra phương châm: Chính trị làm gốc, tư tưởng dẫn đầu, ngành quân y muốn xác định quan điểm phải trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, tuân theo đường lối cách mạng của Đảng để phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, nêu phương châm như trên có thể dẫn tới hiểu sai lệch, coi nhẹ vai trò của chuyên môn kỹ thuật, nên tới Hội nghị quân y năm 1959, phương châm này được sửa đổi thành “ Hết lòng hết sức phục vụ thương binh bệnh binh và bộ đội ”.

     Thấy rõ vai trò quan trọng của công tác vệ sinh phòng bệnh, ngay sau khi Cục quân y được thành lập năm 1946, Cục trưởng bác sĩ Vũ Văn Cẩn đã cho xuất bản báo Vui Sống, làm nhiệm vụ truyền bá vệ sinh phòng bệnh trong quân đội. Tới Hội nghị quân y IX, công tác vệ sinh phòng bệnh được nâng lên thành phương châm xây dựng ngành. Từ đó, các hoạt động vệ sinh phòng bệnh, nhất là phòng chống sốt rét, được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào việc giữ vững sức khỏe bộ đội, nhất là trong những điều kiện chiến đấu ác liệt và gian khổ như ở chiến trường Điện Biên Phủ. Nhưng do nêu Phòng bệnh là chính, chữa bệnh là phụ cũng có thể khiến có người hiểu sai là coi nhẹ công tác chữa bệnh, nên tới năm 1959, phương châm này được sửa đổi thành “Dự phòng trong y học”.

     Việc áp dụng y học cổ truyền vào việc chữa bệnh và phòng bệnh trong quân đội được thực hiện rất sớm, ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, nhất là ở chiến trường Nam Bộ. Việc đề ra phương châm “Đông Tây y kết hợp” chứng tỏ ngành quân y đã thấy rât sớm vị trí và vai trò của y học cổ truyền trong việc phòng bệnh và chữa bệnh cho bộ đội.Y học cổ truyềnđã đóng góp tích cực vào việc phòng và chữa bệnh cho bộ đội ở các chiến trường, trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ.

 

            Xây dựng bậc thang điều trị thương binh bệnh binh trong chiến tranh.

     Trước Hội nghị quân y toàn quân lần thứ IX, các tuyến quân y đã hình thành, nhưng chưa xác định rõ ràng nhiệm vụ cứu chữa của từng tuyến. Tổ chức các tuyến cụ thể cũng rất linh hoạt tùy theo đặc điểm của từng chiến trường. Dựa vào những kinh nghiệm tổ chức quân y trong chiến dịch, nhất là trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, kết hợp với những kinh nghiệm của Quân y Quân Giải Phóng nhân dân Trung Quốc, hội nghị đã thông qua đề án Tổ chức ngoại khoa chiến thương, mà nội dung thực chất là tổ chức các tuyến cứu chữa vận chuyển thương binh bệnh binh trong chiến dịch.

     Theo đề án, tổ chức cứu chữa hình thành 3 khu vực:

-         Khu vực cấp cứu, gồm Tổ sơ cứu Đại đội, Trạm kiếm soat cấp cứu Tiểu đoàn (thực tế vẫn được gọi là Trạm quân y Tiểu đoàn), Trạm chọn lọc và cấp cứu Trung đoàn (Trạm quân y Trung đoàn).

-         Khu vực chuyển vận phẫu thuật, gồm Đội điều trị (có Đội điều trị Đại đoàn và Đội điều trị thuộc Cục quân y) và các Trạm chuyển vận.

-         Khu vực điều trị đến khỏi, do các Bệnh viện hậu phương đảm nhiệm.

     Việc xây dựng bậc thang điều trị (còn gọi là điều trị theo tuyến) là một tiến bộ lớn trong tổ chức cứu chữa thương binh bệnh binh. Các tuyến quân y Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn và Đại đoàn đã bám sát đội hình chiến đấu, cứu chữa vận chuyển thương binh bệnh binh kịp thời về sau. Việc tổ chức các Đội điều trị trực thuộc Cục quân y là cơ sở hình thành tuyến quân y chiến dịch, đứng sau tuyến quân y Đại đoàn, làm nhiệm vụ cứu chữa cơ bản cho thương binh; tới chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã bắt đầu xuất hiện cứu chữa chuyên khoa tại Đội điều trị chiến dịch.

     Tổ chức các tuyến cứu chữa theo đề án nêu trên đã được áp dụng thành công trong các chiến dịch từ năm 1951 trở đi, đặc biệt là trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.

 

            Xây dựng các đề án về tổ chức và điều lệ công tác quân y.

     Gồm có: Hệ thống tổ chức cơ quan quân y toàn Cục, Tổ chức biên chế và điều lệ công tác của Phòng quân y Đại đoàn, Thống nhất chế độ và danh hiệu quân y, Kế hoạch đề bạt và đào tạo cán bộ quân y, Đề án giáo dục, Điều lệ vết thương chiến tranh, Chỉ thị về vận chuyển và tổ chức các trạm vận chuyển, Đề án phòng bệnh, Quan niệm dùng thuốc, Tổ chức dược chính.

     Các đề án nói trên đã được triển khai ngay sau Hội nghị quân y IX, góp phần tích cực vào việc xây dựng ngành quân y từng bước đi vào nề nếp chính quy, tháo gỡ một phần khó khăn trong việc quản lý ngành, đào tạo cán bộ nhân viên quân y vv…

    

3.     Nhìn lại sau 60 năm.

    Ngành quân y Việt Nam năm nay tròn 65 tuổi. Chiến tranh kết thúc đã được 36 năm. Với những bước tiến mạnh mẽ trong vài thập kỷ gần đây, Quân y Việt Nam đang phấn đấu trở thành một ngành quân y cách mạng, chính quy và từng bước hiện đại. Nhiều kỹ thuật hiện đại đã được Quân y Việt Nam tiên phong thực hiện trong cả nước như lĩnh vực ghép tạng. Mỗi hội nghị quân y hàng năm đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ của ngành quân y. Tuy nhiên, sau 60 năm nhìn lại, có thể đánh giá:

     Hội nghị quân y toàn quân lần thứ IX năm 1951 là Hội nghị quân y/năm có ý nghĩa sâu sắc nhất, có tầm ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng ngành về chính trị-tư tưởng, về xây dựng tổ chức lề lối làm việc cũng như xây dựng bậc thang điều trị thương binh bệnh binh trong chiến tranh, đồng thời cũng là hội nghị có thời gian họp lâu nhất.

 

    Ý nghĩa to lớn trước hết là Hội nghị đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ trong việc xây dựng ngành về chính trị-tư tưởng. Năm 1951 là năm cuộc kháng chiến chống Pháp bước sang năm thứ sáu. Cùng với những thắng lợi to lớn đạt được trên các chiến trường, nhất là trong chiến dịch Biên giới cuối năm 1950, nhiều khó khăn cũng nảy sinh, nhất là những thiếu thốn trong đời sống vật chất. Tư tưởng cầu an dao động xuất hiện; một số cán bộ quân y, do không chịu đựng nổi những khó khăn thiếu thốn trong đời sống hàng ngày, đã bỏ về sống trong vùng địch tạm chiếm (lúc đó thường gọi là “dinh tê”, phiên âm từ tiếng Pháp “rentrer”, nghĩa là trở về). Việc Hội nghị quân y IX đưa ra thảo luận 5 phương châm y học cách mạng, nhất là phương châm “lấy chính trị làm gốc…” là kịp thời và đúng đắn. Hội nghị quân y IX, cùng với Hội nghị y bác sĩ dược sĩ do đồng chí Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Ban chấp hành trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp, thay mặt Đảng lao động Việt Nam, tổ chức cũng trong năm 1951, đã làm cho mỗi cán bộ quân y hiểu rõ hơn đường lối y học cách mạng của Đảng, xác định rõ đối tượng phục vụ, tin tưởng ở thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, quyết tâm khắc phục những khó khăn tạm thời trong đời sống vật chất, để đem hết tâm sức phục vụ quân đội, phục vụ thương binh bệnh binh.

     Về tổ chức và lề lối làm việc, lần đầu tiên ngành quân y đưa ra một biểu biên chế thống nhất cho các tổ chức quân y, từ Đại đoàn (tương đương Sư đoàn ngày nay) tới Trung đoàn, Tiểu đoàn và Đại đội. Nhiều chế độ lần đầu tiên được đề ra để thực hiện thống nhất trong toàn ngành như chế độ học tập tại chức, chế độ thống kê báo cáo (đặc biệt là 9 mẫu thống kê thương binh sau mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch), chế độ đề bạt cán bộ tại chức vv... Việc tổ chức học tập tại chức cũng như thực hiện đề bạt cán bộ (công nhân chức danh cho những cán bộ lâu năm, có nhiều kinh nghiệm sau khi được học bổ túc ngắn hạn) đã góp phần giải quyết mộ phần tình hình thiếu cán bộ nghiêm trọng trước sự phát triển nhanh chóng của các lực lượng vũ trang). Việc thông qua Điều lệ vết thương chiến tranh là cơ sở để bước đầu hình thành lý luận ngoại khoa chiến tranh của Quân y Việt Nam.

     Việc hình thành bậc thang điều trị thương binh bệnh binh (còn gọi là điều trị theo tuyến) thực sự là một cuộc cách mạng trong tổ chức cứu chữa vận chuyển thương binh bệnh binh. Các tuyến quân y đã được xây dựng cơ động hơn, bám sát đội hình chiến đấu của đơn vị, với nhiệm vụ của từng tuyến được phân công rõ ràng, khắc phục được tình hình chồng chéo trong thực hiện nhiệm vu cứu chữa cũng như bố trí quá xa đội hình chiến đấu, không cứu chữa kịp thời cho thương binh.

     Hội nghị quân y toàn quân lần thứ IX cũng là Hội nghị quân y dài nhất, họp trong thời gian … ngày, vừa mang tính chất Hội nghị hàng năm, vừa mang tính chất một lớp tập huấn về chính trị-tư tưởng và chuyên môn nghiệp vụ.

     Mỗi cán bộ quân y, sau khi dự Hội nghị quân y IX, đều mang về đơn vị một niềm phấn khởi tự hào về sự lớn mạnh của ngành, một quyết tâm mới, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn để thực hiện sứ mạng lịch sử của quân đội: chuyển mạnh sang tổng phản công.

 

     Hội nghị không chỉ là một thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng ngành quân y cách mạng, mà còn là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành của toàn ngành cũng như của mỗi cán bộ nhân viên quân y trong việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng của Đảng, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến những thắng lợi ngày càng to lớn, kết thúc bằng chiến dịch lịch sử Điên Biên Phủ năm 1954.




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa