Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

GS Tôn Thất Tùng: Thiên tư trác việt - Tính cách mạnh mẽ


(Dân trí) - 23 tuổi, lần đầu tiên trên thế giới, ông mô tả chính xác các mạch máu trong gan. 27 tuổi, trở thành “cha đẻ của cắt gan có kế hoạch”. Là Trưởng khoa Ngoại, Đại học Y Hà Nội khi mới 28 tuổi (năm 1940).

Trước Cách mạng Tháng Tám, nhà nghiên cứu ấy đã công bố 63 công trình trên các tạp chí y học Pháp ở Paris và ở Viễn Đông. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm hoá ngay trong lần gặp đầu tiên.   

Kỳ I: Tuổi thanh xuân nhiều khám phá, sáng tạo 

Tâm hồn trẻ dễ bị thương tổn

GS Tôn Thất Tùng sinh ngày 10/5/1912 (kém GS Hồ Đắc Di đúng một giáp) ở Thanh Hoá, nhưng sống qua thời thơ ấu và niên thiếu ở Huế. Gia đình ông thuộc dòng dõi hoàng gia, có một ngôi nhà rường, với thửa vườn rộng bao quanh, sát bên bờ con sông Hương, phía trên cầu Bạch Hổ, nhìn sang cồn Dã Viên.

Thời trẻ, anh Tùng học Trường Bưởi, Hà Nội (tên chính thức là Trường Trung học Bảo hộ), sống trong nhà GS Hồ Đắc Di ở phố Hàng Bông. Tâm hồn trẻ trung, dễ bị thương tổn, anh bắt đầu cảm thấy có điều gì đó bất ổn, khiến lòng anh luôn đau đớn.

"Mỗi lần ra đường là một lần tức giận - sau này, GS Tôn Thất Tùng viết. Đường đi lại đều phải nhường cho đám Tây đầm thực dân hay trẻ con Tây lai. Lắm khi chúng rất láo xược đối với trẻ con và người dân lao động nước ta. Chúng nói chuyện với nhau ngay trước mặt tôi, chê cười những tập quán của dân mình, coi tôi như một kẻ đã tách khỏi dân tộc mình rồi! Có lúc tôi cáu tiết, nổi khùng lên với chúng thì chúng quắc mắt nhìn tôi, cười khẩy, rồi nói với cái thế của kẻ thắng trận: "Anh quên là người Pháp đã chiếm thành Nam Định và thành Hà Nội chỉ với vài ba chục người lính thôi ư?"

Chán ngấy đám quan lại ở Huế một mặt thì sợ Tây như sợ hổ, mặt khác lại chà đạp lên người dân lao động nước mình, anh muốn học ngành y để khi ra đời có thể làm một nghề "tự do", không lệ thuộc vào Nam triều hay chính quyền thực dân.

BS Tôn Thất Tùng kết hôn với bà Vi Nguyệt Hồ, cháu nội cụ Tổng đốc Vi Văn Định. Bà Vi Nguyệt Hồ là cháu gọi bằng cô ruột hai bà Vi Kim Ngọc (vợ GS Nguyễn Văn Huyên) và Vi Kim Phú (vợ GS Hồ Đắc Di). Sau này, đại gia đình "ba chàng rể nhà họ Vi" sẽ sống hoà thuận bên nhau ở Chiêm Hoá, Tuyên Quang trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Được tặng Huy chương Bạc của Đại học Paris

Với thiên tư trác việt và tính cách mạnh mẽ, Tôn Thất Tùng vùi đầu vào học tập và nghiên cứu. Mùa đông năm 1935, khi mới 23 tuổi, anh thường đến mổ xác tại Viện Giải phẫu do GS Huard phụ trách. Một buổi chiều u ám và giá lạnh nhưng, đối với anh, thật đáng nhớ suốt đời. Anh bỗng phát hiện một lá gan tử thi đầy những giun là giun; tất cả các ống mật và mạch máu trong gan dường như đều bị nhồi kín bằng vô số con giun lớn nhỏ! Sờ nắn, lần theo những con giun ấy, với mấy ngón tay khéo léo và một cái nạo (curette), anh phẫu tích tất cả các ống mật và mạch máu trong gan. Phẫu tích bằng cái nạo là một sáng kiến độc đáo của anh, nhờ cách đó, chỉ trong 15 phút, anh đã có thể phơi trần các ống mật và mạch máu trong gan để mô tả chúng một cách chính xác nhất.

Trong vòng bốn năm sau đó (1935-1939), Tôn Thất Tùng làm cái công việc buồn tẻ đến rợn người: mổ hơn 200 lá gan người chết! Anh phẫu tích tất cả các lá gan ấy, vẽ thành sơ đồ, rồi đối chiếu chúng với nhau để tìm ra những nét chung. Từ đó anh viết bản luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa nhan đề: Cách phân chia các mạch máu trong gan. Đây thật sự là một khám phá y học bởi vì từ thời cổ đại Hy Lạp cho đến lúc bấy giờ, chưa ai mô tả các mạch máu trong gan được rõ ràng, cặn kẽ như Tôn Thất Tùng. Bản luận văn được tặng Huy chương Bạc của Đại học Paris (Trường Y  Hà Nội lúc bấy giờ là một bộ phận của Đại học Paris).

Cha đẻ của cắt gan có kế hoạch

Sau khi nắm chắc các tĩnh mạch trong gan, năm 1939, Tôn Thất Tùng lần đầu tiên trên thế giới thành công trong việc cắt gan có kế hoạch. Trước ông, một số nhà phẫu thuật Đức, Anh, Nga… cũng đã từng cắt gan, tổng cộng 87 trường hợp, nhưng không theo một kế hoạch nào cả! Sở dĩ phải làm liều như vậy là vì trước ông, chưa ai trên thế giới mô tả được đầy đủ, kỹ càng các mạch máu trong gan; do đó, các nhà phẫu thuật đành cứ phải nhắm mắt làm liều, cắt gan một cách vu vơ, gặp mạch máu nào thì buộc lại, nếu chẳng may bỏ sót - điều này rất dễ xảy ra - thì sau khi đóng bụng lại, người bệnh sẽ chết do chảy máu hay do hoại tử gan! Công trình của Tôn Thất Tùng được gửi tới Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris nhưng lúc đó, chưa ai tin phương pháp của ông!

Nhiều năm sau, thế giới mới hiểu thấu và công nhận phương pháp do Tôn Thất Tùng đề xướng vào năm 1939 - khi ông mới 27 tuổi - và nhà y học Việt Nam mới được công nhận là "cha đẻ của cắt gan có kế hoạch", được tặng Giải thưởng phẫu thuật quốc tế Lannelongue, được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris.

Người Việt Nam thời thuộc Pháp hầu hết thiên về tiếp thụ những kiến thức khoa học sẵn có, chứ chẳng mấy ai nuôi cao vọng tìm tòi, phát minh cái mới. Tôn Thất Tùng là trường hợp đặc biệt hiếm thấy: Từ năm 1936 đến năm 1945, ông đã công bố 63 công trình trên các tạp chí y học của Pháp ở Paris và ở Viễn Đông. Với thành tựu khoa học vượt trội, không thể phủ nhận đó, năm 1940, ông được nhà cầm quyền Đông Dương bổ nhiệm làm Trưởng khoa Ngoại Đại học Y  Hà Nội, khi mới 28 tuổi.

Mến phục Việt Minh, được Bác Hồ cảm hoá

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp.

Hôm ấy, BS Tùng mổ cho một thanh niên ta bị Nhật tra tấn rất dã man: một anh thợ sắp chữ. Lúc hấp hối, anh ấy cầm lấy tay bác sĩ, khuyên ông nên tin vào tương lai dân tộc. Ông bắt đầu suy nghĩ nhiều về phẩm chất người cán bộ Việt Minh.

Sau này, GS Tôn Thất Tùng viết trong hồi ký:

"Cách mạng Tháng Tám bùng nổ ở Hà Nội như một ngọn lửa hồng. Cùng với anh em Việt Minh, chúng tôi giành chính quyền ở Bệnh viện Phủ Doãn. Chỉ cần nổ ba phát súng là ông Chánh y tế Nhật và ông Phó y tế Pháp bỏ chạy; ông trước với lưỡi gơm dài lòng thòng, ông sau với cái cặp đầy hồ sơ (...).

Một hôm tôi được mời gấp đến xem bệnh cho một "lão đồng chí". Bước vào phòng, tôi thấy một ông già gầy xanh nhưng có đôi mắt rất sáng. Đó là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Và từ cuộc gặp đầu tiên hôm ấy tâm hồn tôi chuyển biến theo cách mạng dưới ánh sáng đôi mắt Bác Hồ.

Tôi được nghe các bạn tôi xì xào rằng Bác Hồ chính là Nguyễn ái Quốc đó. Nguyễn Ái Quốc! Cái tên tôi rất quen biết. Từ khi còn học Trường Bưởi, tôi đã nghe nói đến nhà yêu nước vĩ đại này mà tin đồn là đã chết trong một nhà lao ở Hồng Kông. Câu hỏi "Cụ có phải là Nguyễn Ái Quốc không?" luôn vương vấn trong óc tôi. Nhiều lúc tôi định hỏi nhưng rồi không bao giờ dám hỏi cả! Thường thì sau khi tôi tiêm thuốc cho Bác, Bác hay giữ tôi lại để hỏi chuyện công việc, gia đình. Biết vợ tôi vừa sinh con trai đầu lòng, Bác nói: "Để tôi đặt tên cho nó. Tên chú có bộ mộc, nên tôi đặt tên cho con chú là Bách".

Tìm thuốc và dụng cụ Y tế mang lên chiến khu

Những ngày sau đó, quân Tàu "phù" của tướng Lư Hán tiến vào Hà Nội như nước lũ, với danh nghĩa quân Đồng Minh tước vũ khí quân Nhật. Bám đuôi chúng là một số người Việt thuộc mấy đảng chính trị theo Tưởng Giới Thạch. Một hôm, tại Bắc Bộ phủ, BS Tôn Thất Tùng nghe "Phó Chủ tịch nước" Nguyễn Hải Thần phát biểu ý kiến bằng thứ tiếng lơ lớ như người nước ngoài nói tiếng Việt. Ông thầm nghĩ: "Một anh chàng đã quên cả tiếng mẹ đẻ thì còn gì để mà nói đến khả năng cứu vãn đất nước khỏi ách đế quốc!"

Cùng đóng với quân Tàu Tưởng ở Bệnh viện Đồn Thuỷ có hai cố vấn Mỹ. Chính phủ ta giao cho GS Hồ Đắc Di và BS Tôn Thất Tùng tiếp hai vị khách Mỹ kia. Một hôm, Patton - tên một vị cố vấn - châm chọc hỏi:

- Các anh nghĩ sao khi đi theo một chính phủ mà trong quốc khố chỉ còn một triệu bạc?

GS Di bình tĩnh trả lời bằng tiếng Pháp:

- Mais c'est notre gouvernement! (Nhưng đó là chính phủ của chúng tôi!)

Lặng lẽ chuẩn bị cho kháng chiến, BS Tùng được giao nhiệm vụ tìm kiếm thuốc men và dụng cụ y tế để mang dần lên chiến khu. Hầu hết các bác sĩ, y tá trong Bệnh viện Đồn Thuỷ - nơi GS Hồ Đắc Di làm Giám đốc - đều ngả theo cách mạng. Nhưng cái khó là, ở cổng ra vào, bọn Tàu Tưởng vẫn bố trí một tên lính Nhật đứng gác, lăm lăm khẩu súng trong tay. BS Tùng bày mưu: Mang theo một anh y tá biết tiếng Nhật làm phiên dịch, ông lân la hỏi chuyện tên lính gác kia. Trước khi chiếc xe tải chạy vào, ông hỏi thăm quê hương, cha mẹ, vợ con tên lính, khiến hắn ta hết sức cảm động. Và hắn còn cảm động mãi cho đến khi chiếc xe tải chở thuốc quý ra khỏi cổng từ lâu!...

(Còn nữa  Nguồn : Dân trí

Hàm Châu

 

 

GS Tôn Thất Tùng - Vị tổ sư của cắt gan có kế hoạch

Cập nhật lúc 08h34, ngày 28/09/2008

GS Tôn Thất Tùng (trái).

 

 

Hanoinet - Trong bài tưởng niệm GS Tôn Thất Tùng in trên tờ Témoignage (Bằng chứng), tờ báo của giới Y học Pháp, BS J.-M. Krivine viết: Không ai có thể thay thế được GS Tôn Thất Tùng. Không một nhà phẫu thuật nào có tầm cỡ như ông trong thế hệ hiện nay…

(Dân trí) - Trong bài tưởng niệm GS Tôn Thất Tùng in trên tờ Témoignage (Bằng chứng), tờ báo của giới Y học Pháp, BS J.-M. Krivine viết: Không ai có thể thay thế được GS Tôn Thất Tùng. Không một nhà phẫu thuật nào có tầm cỡ như ông trong thế hệ hiện nay…

 

Đưa bệnh viện Phủ Doãn lên ngang tầm quốc tế

 

Sau ngày Hà Nội giải phóng, ông xin thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế để chuyên tâm làm khoa học. Qua tranh cãi gay gắt, cuối cùng, phương pháp cắt gan của Tôn Thất Tùng được nhiều nước công nhận. Ông được tặng Huy chương Phẫu thuật quốc tế Lannelongue, được bầu làm viện sĩ nhiều viện hàn lâm, rồi được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Tên tuổi ông được đặt cho nhiều đường phố ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Long An...

 

Sau ngày Hà Nội giải phóng, 10/10/1954, GS Tôn Thất Tùng bắt tay cải tạo Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt - Đức) cũ kỹ thành môt bệnh viện hiện đại với 350 giường và 60 chuyên gia (một số đạt trình độ giáo sư theo tiêu chuẩn quốc tế). Nhiều khoa của bệnh viện đuổi kịp các nước tiên tiến khi đó.

 

Năm 1958, ông thực hiện thành công ca mổ tim đầu tiên ở Việt Nam.

 

Năm 1965, cũng lần đầu tiên ở Việt Nam, ông sử dụng thành công máy tim-phổi nhân tạo trong khi mổ tim. Ở Sài Gòn thời đó, các bác sĩ Mỹ có đến biểu diễn phương pháp ấy, nhưng người Việt chưa ai áp dụng được. Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là việc ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, chứ chưa phải tự mình sáng chế, phát minh.

 

Nhớ lại bốn năm 1935-1939, khi mới 23-27 tuổi, ông đã mổ hơn 200 lá gan người chết, từ đó, viết thành công trình được Đại học Paris tặng huy chương bạc: Cách phân chia các mạch máu trong gan. Đó thật sự là một khám phá, bởi vì, từ thời cổ đại Hy Lạp cho đến lúc ấy, chưa ai làm được.

 

Nắm chắc các mạch máu trong gan rồi, ông đi đến một giả thuyết táo bạo: Rất có thể tìm tất cả các mạch máu trong gan, buộc chúng lại và sau đó mới cắt gan. Đấy chính là cách làm về sau được gọi là phương pháp cắt gan có kế hoạch mà ông là người thực hiện đầu tiên trên thế giới, là "cha đẻ" - như lời khẳng định của nhà phẫu thuật Pháp Jean-Michel Krivine, Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật Trung tâm Bệnh viện Émile-Roux, Paris.

 

Ca mổ đầu tiên theo phương pháp do Tôn Thất Tùng đề xướng và được GS Mayer-May tán thành, diễn ra tại Hà Nội năm 1939, được viết thành báo cáo gửi tới Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris. Viện giao cho GS Funck-Brentano đọc và nhận xét. Tiếc thay, ông này công kích!

 

"Ý tuởng của Tôn Thất Tùng quá mới - J.-M. Krivine viết - cho nên, lúc bấy giờ, chưa được cơ quan khoa học đầy quyền uy này thấu hiểu!"

 

Thất vọng trước sự "đón tiếp" của "vị thánh" của ngành phẫu thuật thế giới thời ấy, Tôn Thất Tùng e ngại, không đụng dao mổ đến gan trong hơn 20 năm ròng rã!

 

Một lần nữa, cái mới có thể bị bóp chết!

 

Trở về Hà Nội giải phóng, không bị biệt lập về khoa học với thế giới bên ngoài, GS Tùng mới biết: Năm 1952, GS Pháp Lortat-Jacob đã thành công khi cắt gan có kế hoạch, bằng cách trước khi cắt, tìm buộc tất cả các cuống mạch máu ở ngoài gan. Ông lại cảm thấy hăm hở như xưa, muốn tiếp tục cái công việc bỏ dở từ năm 27 tuổi.

 

Ngày 7/1/1961, ông cắt thuỳ gan phải của một ca ung thư sơ phát chỉ vẻn vẹn trong... 6 phút! Nếu làm theo phương pháp Lortat-Jacob, thì phải mất 3-4 giờ! Phương pháp của ông khác phương pháp Lortat-Jacob ở chỗ: Ông tìm các mạch máu và ống mật ở ngay trong gan (qua tổ chức gan ung thư bị ông bóp vỡ) để thắt lại trước khi mổ; trong khi Lortat-Jacob tìm ở ngoài gan, do vậy, lâu hơn nhiều. Sở dĩ ông có thể làm được như vậy là vì chính ông là người đầu tiên trên thế giới mô tả được rành rẽ các mạch máu và ống mật trong gan.

 

Ông bèn cho công bố Một phương pháp cắt gan mới trên tờ The Lancet (Dao bầu) ở London, tờ tạp chí rất nổi tiếng trong ngành phẫu thuật thế giới, phát hành hàng triệu bản. Công trình gây chấn động dư luận. Chỉ sau một tháng, hơn 100 nhà phẫu thuật từ Mỹ đến Australia gửi thư sang Hà Nội, xin ông thêm tài liệu. Một số người viết bài dè dặt hoan nghênh. Nhưng nhiều người hoài nghi, kịch liệt phản đối! Đọc những lời bài bác của giới phẫu thuật phương Tây, không ít người Việt Nam vội cho là "phen này ông Tùng hố to" bởi vì đã làm một việc... "phản khoa học"!

 

Một lần nữa, cái mới đứng trước nguy cơ bị bóp chết!

 

Để có thể dành hết thời gian và tâm huyết cho phẫu thuật, GS Tùng xin thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế.

 

Không nên nghe "tây" bảo sai, là bỏ cuộc!

 

Về "cuộc đọ sức với cái cũ" năm ấy, GS Tùng kể lại:

 

"Nhà phát minh, sáng chế phải là người can đảm rất mực, không hề biết nản chí là gì, không sợ có ý kiến chống đối! Con người ấy phải luôn kiên trì tiếp tục công việc của mình, phải dám tranh cãi, và phải thông thạo chuyên môn cũng như ngoại ngữ để tranh cãi với đồng nghiệp quốc tế. Không nên có mặc cảm tự ti, nghe "Tây" bảo sai là thôi, không dám làm nữa; hoặc nghe chung quanh có người không tin hay thậm chí cho mình "phản khoa học" là bỏ cuộc!"

 

Giờ đây, ông vững tin ở mình hơn. Nếu năm 1939, ông chán nản do lời nhận xét bất công của GS Funck-Brentano, thì năm 1962, ông sẵn sàng "một mình một ngựa" lao vào cuộc luận chiến tưởng chừng không cân sức với những tên tuổi lớn. Và rồi cuối cùng, ông đã thắng. Những người công kích ông dữ dội nhất, một khi đã thấu hiểu phương pháp mới do ông đề xướng, liền "phục thiện", quay ra ca ngợi ông hết lời, coi ông là "cha đẻ", là "vị tổ sư" của phương pháp cắt gan có kế hoạch!

 

Phương pháp cắt gan của Tôn Thất Tùng cũng được giới thiệu trong Encyclopédie médico - chirurgicale (Bách khoa thư nội thương - phẫu thuật) của Pháp; được đưa vào Obstetrics and Surgery's Reader Digest (Tuyển chọn các tài liệu sản khoa và phẫu thuật) của Mỹ.

 

Tạp chí Lyon chirurgicale (Lyon Phẫu thuật) viết:

 

"Hai tinh hoa mà Đại học Y Hà Nội có thể tự hào là: 1) Lần đầu tiên trên thế giới nghiên cứu các mạch máu trong gan, và 2) Lần đầu tiên cắt gan có kế hoạch."

 

Cả hai tinh hoa đó đều là của Tôn Thất Tùng.

 

Không có nhà phẫu thuật nào sánh ngang tầm cỡ

 

Năm 1979, Nhà xuất bản Masson ở Paris in tiếp một cuốn sách khác của GS Tùng: Les Résections majeures et mineures du foie (Phẫu thuật lớn và nhỏ về gan). Trong tác phẩm này, ông tổng kết 715 ca ông đã cắt gan. Con số đó vượt xa kinh nghiệm của các nhà phẫu thuật gan khác trên thế giới: Sau ông là một nhà phẫu thuật Singapore cắt hơn 100 ca.

 

Nhà phẫu thuật Pháp J.-M. Krivine nhận xét:

 

"Với cuốn sách đó, kỹ thuật cắt gan của Tôn Thất Tùng đã dứt khoát được xác định thành quy trình, thao tác. Quả thật, người ta có thể nói ông đã "dân chủ hoá" phẫu thuật cắt gan, cho phép mọi nhà phẫu thuật đại cương, nếu chịu khó học tập phương pháp của ông, cũng sẽ không còn phải chịu bó tay trước những tổn thương nghiêm trọng ở gan."

 

GS Tôn Thất Tùng được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris, Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Liên Xô, v.v.

 

Ông được nhiều nước mời đến trình diễn phương pháp do chính ông đề xướng.

 

Trong một đời người, có được một công trình kinh điển như thế, đã là vinh hạnh lắm rổi. Thế mà, Tôn Thất Tùng công bố tới 123 công trình lớn, nhỏ.

 

Năm 1977, GS Tôn Thất Tùng được Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris tặng Huy chương Phẫu thuật quốc tế Lannelongue. Đây là loại huy chương đặt ra từ năm 1911 và 5 năm mới trao cho 1 người. Người ấy hiển nhiên phải là nhà phẫu thuật xuất sắc nhất thế giới trong 5 năm ấy. Tôn Thất Tùng là người thứ 12 được tặng huy chương đó.

 

Nhà phẫu thuật trứ danh của nước ta qua đời lúc 11 giờ 45 phút ngày 7/5/1982, thọ 70 tuổi.

 

Trong bài tưởng niệm GS Tôn Thất Tùng - một nhà phẫu thuật lớn đã ra đi in trên tờ Témoignage (Bằng chứng), tờ báo của giới Y học Pháp, BS J.-M. Krivine viết:

 

"Không ai có thể thay thế được GS Tôn Thất Tùng! Không một nhà phẫu thuật nào có tầm cỡ như ông trong thế hệ hiện nay (...). Nhưng chúng ta tin rằng ngành phẫu thuật Việt Nam sẽ tiếp tục nuôi dưỡng và phát huy nhiệt tình, tính nghiêm túc và trí tuệ cởi mở của bậc thầy khai sáng ấy."

 

Tôn Thất Tùng đã qua đời!

 

Nhưng ông vẫn sống với trường phái phẫu thuật do ông sáng lập.

 

Ông còn được thế giới trân trọng vì đã công bố những công trình mở đường cho việc nghiên cứu chất độc da cam/ dioxin.

 

Năm 1984, GS Arthur H. Westing ở Stockholm cho in cuốn: Chất diệt cỏ trong chiến tranh - những hậu quả lâu dài về mặt sinh thái học và đối với cơ thể con người, với lời để từ: "Cuốn sách này được để tặng vong linh GS Tôn Thất Tùng (1912-1982)".

 

Tên tuổi ông còn lại mãi trên các đường phố Tôn Thất Tùng ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Long An...

 

Tôn Thất Tùng

 Trong thời gianhọc tại trường y, cũng như suốt thời gian  nội trú tại bệnh viện  PhủDoãn và sau đó là quá trình tham gia cách mạng, dù ở đâu, trên cương vịcông tác nào, GS. Tôn Thất Tùng cũng để lại dấu ấn không thể phai mờtrong tâm trí nhân dân cũng như toàn thể ngành y tế Việt Nam.

Trước Cáchmạng, cả Đông Dương chỉ có một trường thuốc duy nhất tại Hà Nội  màngười bản xứ không được dự các kỳ thi "nội trú", GS. Tùng là người đầutiên đấu tranh bắt buộc chính quyền  thực dân phải tổ chức thi nội trúcho các bệnh viện  Hà Nội. Ông đã sớm say mê nghiên cứu  khoa học  y học,với mong muốn đưa nền y học Việt Nam  sánh ngang với các nước trên thếgiới.

Cuộcđời ông là một điển hình của người trí thức  Việt Nam  sớm hǎng say laođộng khoa học, được cách mạng  giác ngộ. Nói đến ông, phải nghĩ đến mộtngười thầy, một nhà khoa học  chân chính. Trong kháng chiến chống Pháp,cùng với những cán bộ y tế, các thầy và các sinh viên  trường y, ông đãtận tình cứu chữa thương bệnh binh, vừa xây dựng  các tuyến mổ xẻ như ởmặt trận Tây Nam Hà Nội  cùng BS. Nguyễn Hữu Trí, BS. Hoàng Đình Cầu...,vừa đào tạo  các sinh viên. Trong hoàn cảnh  chiến tranh  ác liệt, dichuyển nhiều lần, ở nhiều địa bàn như Ngòi Quãng, Chiêm Hóa, chiến khuViệt Bắc... ở đâu ông cũng gắn điều trị với nghiên cứu  khoa học, vớiđào tạo sinh viên, phát triển ngành y tế. Ông là một trong những ngườiđầu tiên xây dựng  trường y ngay từ sau cách mạng  tháng Tám.

Trởvề từ chiến khu Việt Bắc, ông đã cùng những học trò của mình xây dựnglại bệnh viện  Việt Đức, trung tâm  ngoại khoa lớn nhất miền Bắc. ĐượcNhà nước cử giữ cương vị Thứ trưởng Bộ y tế, Giám đốc  Bệnh viện  hữunghị Việt Đức, ông luôn dành tâm sức cho sự nghiệp  đào tạo  cán bộ,nghiên cứu khoa học, phát triển ngành y tế Việt Nam.

GS.Tôn Thất Tùng là một tấm gương về tinh thần lao động  khoa học  miệt mài,lòng yêu thương bệnh nhân.Trong khi học tập tại Trường Đại học  Y, ôngđã sớm say mê khoa học. Trong khoảng thời gian  từ nǎm 1935-1939 ông đãmiệt mài phẫu tích trên 200 lá gan, ông đã có một công trình về cáchphân chia mạch máu trong gan, công trình được đánh giá  cao và được gửivề Viện hàn lâm Pháp thời đó. Cũng trong thời gian  chiến tranh  khốcliệt, nhiều công trình nghiên cứu  của ông được thai nghén và tiến hành,tổng kết các kinh nghiệm  bệnh tật của riêng người Việt  Nam, của đồngbào các dân tộc. Cùng với GS. Đặng Vǎn Ngữ, ông đã góp phần sản xuấtpenicilline phục vụ thương bệnh binh trong chiến tranh  chống Pháp.

Giađình ông có 5 người, thì 4 người chọn nghề y mà trong đó điển hình làGS. Tôn Thất Bách, con trai  ông, ngày nay đang là Hiệu trưởng  Đại học  YHà Nội.

GS. Tôn Thất Tùng mất ngày 7/5/1982.

GS. Tôn Thất Tùng đã để lại cho các thế hệ thầy thuốc Việt Nam  những bài học vô cùng quý giá:

GS.là một nhà khoa học  chân chính với tinh thần lao động  khoa học  hǎngsay, miệt mài. Trong cuộc đời mình, giáo sư đã để lại 123 công trìnhkhoa học, đặc biệt là một trong những nhà khoa học  đầu tiên xây dựngphương pháp mổ gan mang tên ông. Ông cũng là người đầu tiên mổ tim ởViệt Nam nǎm 1958, là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu  tác hạicủa chất độc hóa học dioxin đến con người  và môi trường  tại Việt Nam,phương pháp điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật kết hợp dùng miễn dịchvà rất nhiều công trình khoa học  khác. Giáo sư luôn coi trọng việc tiếpthụ y học phương Tây để xây dựng  và phát triển nền y học của Việt Nam,nghiên cứu bệnh tật và chữa trị cho người Việt  Nam, đi đầu trong việcáp dụng các kỹ thuật  phát triển ngành ngoại khoa Việt Nam.

GS.là một thầy thuốc chân chính, ông luôn đòi hỏi mọi người làm việc  trungthực, thương yêu người bệnh, ông luôn sẵn sàng giúp đỡ bệnh nhân, cácbác sĩ, y sĩ, kỹ thuật  viên, sinh viên. Mặc dù luôn bận rộn nhưng ôngrất quan tâm  đến đời sống vật chất, tinh thần của bệnh viện. Gần 30 nǎmlàm giám đốc  bệnh viện, ông đã có công lao to lớn xây dựng  lề lối làmviệc trong khám bệnh, mổ xẻ, chǎm sóc bệnh nhân.

GS.là một người thầy, hết lòng đào tạo  các thế hệ sinh viên  ngành y. Từnǎm 1947 cùng với giáo sư Hồ Đắc Di, ông đã bắt tay xây dựng  Trường Đạihọc Y Hà Nội  và gắn hơn nửa cuộc đời mình với công tác  đào tạo. Các cánbộ y tế đã có thời gian  học tập, thực tập tại trường và bệnh viện  ViệtĐức đều nhớ tới ông với những buổi giao ban sống động, với những bàigiảng nghiêm khắc, bổ ích. Là Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại của Đại học  Y, ôngđã đào tạo  nhiều thế hệ học trò mà nay đã trưởng thành như GS. Tôn ThấtBách, GS. Đặng Hanh Đệ, GS. Đỗ Kim Sơn, GS. Đỗ Đức Vân... Những quanđiểm "học và hành thống nhất" của ông cho đến giờ vẫn còn nguyên giátrị. Đặc biệt hơn, ông còn luôn quan tâm  đến cả đời sống của sinh viênmà ông cho là "những người thiệt thòi nhất".

Làngười thầy thuốc được Đảng, Bác Hồ sớm giác ngộ, giáo dục, ông là tấmgương của tinh thần tranh đấu không mệt mỏi, đấu tranh cho sự bình đẳngcủa sinh viên  y khoa Việt Nam  khi còn trong chế độ thực dân Pháp caitrị; kiên cường phục vụ nhân dân, phục vụ bộ đội qua các cuộc

Top of Form

Tìm bài viết khác

Cha đẻ của “phương pháp Tôn Thất Tùng” trong phẫu thuật gan

- Ông được tặng Huy chương Phẫu thuật quốc tế Lannelongue và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Nhiều phố ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Long An mang tên phố Tôn Thất Tùng.

Một cuộc đời sôi nổi và phong phú

GS Tôn Thất Tùng sinh ngày 10/5/1912 tại tỉnh Thanh Hoá, do lúc bấy giờ ông cụ thân sinh đang làm Tổng đốc tỉnh này. Cha mất từ khi cậu Tùng mới ba tháng tuổi; mẹ đưa cậu trở về Huế, sống trong một ngôi nhà có vườn rộng bên bờ sông Hương, gần cầu Bạch Hổ. Năm chín tuổi, Tôn Thất Tùng ra Hà Nội, sống trong nhà Bác sĩ Hồ Đắc Di (lúc bấy giờ là nhà phẫu thuật người bản địa duy nhất trong toàn cõi Đông Dương) để theo học Trường Bưởi, rồi Trường đại học Y.

GS Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ Y tế (trái) và GS Hồ Đắc Di, Hiệu trường Trường đại học Y trong rừng Chiêm Hoá, Tuyên Quang (1947-1954).

GS Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ Y tế (trái) và GS Hồ Đắc Di, Hiệu trường Trường đại học Y trong rừng Chiêm Hoá, Tuyên Quang (1947-1954).


Thông minh xuất chúng, mới 27 - 28 tuổi, Tôn Thất Tùng đã có công trình được tặng huy chương bạc của Liên hiệp Pháp và huy chương bạc của Đại học Y Paris. Ông trở thành chủ nhiệm Khoa Ngoại Trường Y Hà Nội khi mới 28 tuổi. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông đã công bố 62 công trình trên các tạp chí y học Pháp ở Paris và ở Viễn Đông.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông cùng GS Hồ Đắc Di, GS Hoàng Tích Trí, GS Đặng Văn Ngữ và một số thầy thuốc khác xây dựng Trường đại học Y tại làng Ải, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Là Thứ trưởng Bộ Y tế, Cố vấn phẫu thuật của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông có mặt tại chiến trường và trực tiếp tham gia mổ xẻ cho hàng trăm thương binh nặng ở Điện Biên Phủ.

Sau ngày Hà Nội giải phóng (10/10/1954), ông xin từ chức Thứ trưởng Bộ Y tế để chuyên tâm làm Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn (về sau đổi tên là Bệnh viện Việt - Đức) và tập trung nghiên cứu một phương pháp mới trong phẫu thuật gan.

GS Tôn Thất Tùng qua đời sáng 7/5/1982 tại Hà Nội, thọ 70 tuổi. Một sự ngẫu nhiên kỳ lạ: Người chiến sĩ Điện Biên Phủ năm xưa ra đi đúng vào Ngày kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng. Tối hôm trước, trong bữa cơm gia đình thân mật tại nhà riêng ở phố Lê Thánh Tông, Hà Nội, ông còn chuyện trò sôi nổi với những người thân như Hồ Đắc Di, Võ Nguyên Giáp, Trần Đại Nghĩa...

Vẫn sống với trường phái do mình sáng lập

Ngay sau khi nhận được tin GS Tôn Thất Tùng đột ngột qua đời do một cơn nhồi máu cơ tim, trong bức thư gửi đến Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, Bác sĩ Jean-Michel Krivine, Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật Trung tâm Bệnh viện Émile Roux, Paris, viết:

“Việc GS Tôn Thất Tùng qua đời làm cho tôi cũng như nhiều bạn bè của giáo sư choáng váng (...). Không ai có thể thay thế GS Tôn Thất Tùng. Không một nhà phẫu thuật nào có tầm cỡ như giáo sư trong thế hệ hiện nay. Nhưng giáo sư vẫn sống với trường phái do ông sáng lập...”.


“GS Tôn Thất Tùng vẫn sống với trường phái do ông sáng lập”, lời tiên đoán ấy rất có căn cứ, bởi lẽ ông là “người cha” của một phương pháp cắt gan mang tên ông: Phương pháp Tôn Thất Tùng.

Phương pháp này cho phép cắt gan chỉ mất 4-8 phút trong khi, nếu theo phương pháp vẫn được coi là kinh điển mang tên vị giáo sư người Pháp Lortat-Jacob, thì phải mất 3-6 giờ! Sáng chế của Tôn Thất Tùng không phải là do sự “khéo tay”, thay đổi kỹ xảo vụn vặt, như có người lầm tưởng, mà chính là bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản do anh sinh viên nội trú thuộc dòng dõi hoàng gia này thực hiện trong những năm 1935-1939.

Lần đầu tiên trong y văn thế giới, Tôn Thất Tùng đã mô tả các mạch máu và ống mật trong gan sau khi phẫu tích hơn ... 200 lá gan người chết! Chính vì vậy, bản luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa của ông mới được tặng huy chương bạc của Liên hiệp Pháp vào năm 1939 và huy chương bạc của Đại học Y Paris năm 1940 (lúc bấy giờ Trường đại học Y Hà Nội là một phân hiệu của Đại học Y Paris).

GS Tôn Thất Tùng (người mặc complet trắng bên trái) hướng dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh viện Việt - Đức sau ngày Hà Nội giải phóng (10/10/1954).

GS Tôn Thất Tùng (người mặc complet trắng bên trái) hướng dẫn Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Bệnh viện Việt - Đức sau ngày Hà Nội giải phóng (10/10/1954).


Nhờ nhận biết chi li, tường tận các tĩnh mạch trong gan, Tôn Thất Tùng và Mayer - May (một giáo sư người Pháp gốc Do Thái lúc đó làm việc tại Hà Nội) lần đầu tiên trên thế giới đã cắt gan một cách “có quy phạm”, nghĩa là tìm và kẹp chặt các mạch máu trong gan trước khi cắt thuỳ gan bị ung thư.

Trước Tôn Thất Tùng, các nhà phẫu thuật Đức, Anh, Nga... cũng đã cắt gan tổng cộng 87 trường hợp, nhưng tất cả đều là cắt gan không theo một quy phạm nào cả! Sở dĩ người ta phải làm liều như thế là do: Trước Tôn Thất Tùng, chưa hề có ai mô tả chính xác các mạch máu trong gan, cho nên các nhà phẫu thuật đành phải nhắm mắt làm liều, cắt gan một cách vu vơ, gặp mạch máu nào thì buộc nó lại, nếu chẳng may bỏ sót – điều này rất dễ xảy ra - thì sau khi “đóng bụng”, người bệnh sẽ chết do chảy máu hoặc do hoại tử gan.

Ít lâu sau, bản báo cáo về trường hợp cắt gan có quy phạm đầu tiên, do Tôn Thất Tùng và Mayer-May thực hiện, được trình bày tại Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris, nhưng, tiếc thay, bị GS Funck-Brentano công kích, do “ý tưởng này vào lúc đó còn quá mới”, như lời nhận xét về sau của Jean-Michel Krivine.

Thất vọng trước sự “đón tiếp” của “vị thánh” của ngành phẫu thuật thời ấy, Tôn Thất Tùng đâm ra e ngại, hơn nữa, sau đó, vào những năm chống Pháp gian nan, thiếu phương tiện, ông không đụng dao mổ đến buồng gan trong hơn 20 năm ròng rã!

Nhiều kinh nghiệm cắt gan nhất thế giới

Trở về Hà Nội giải phóng, GS Tùng mới nhận được thông tin: Vào năm 1952, GS Lortat-Jacob ở Pháp đã thành công trong việc cắt gan “có quy phạm” bằng cách: Trước khi cắt gan, tìm và buộc tất cả các mạch máu ở ngoài gan. Nhà phẫu thuật Việt Nam bỗng cảm thấy mình lại hăm hở như xưa, lại muốn lao vào làm tiếp cái công việc bỏ dở từ năm 27 tuổi.

Ngày 7/1/1961, tại Bệnh viện Việt - Đức, ông cắt thuỳ gan phải của một người bị bệnh ung thư tên là Hải. Ca mổ kéo dài từ 9 giờ 30 phút đến 9 giờ 36 phút, nghĩa là chỉ trong có... 6 phút! Phương pháp Tôn Thất Tùng khác với phương pháp Lortat-Jacob ở chỗ: Tôn Thất Tùng tìm ở ngay trong gan (qua tổ chức gan bị bóp vỡ) các mạch máu và ống mật, còn vị giáo sư Pháp thì tìm ở ngoài gan (tại đoạn mà người ta gọi là cuống gan).

Sau đó, trong vòng một năm, Tôn Thất Tùng cắt gan 50 trường hợp, vượt kỷ lục của Lortat-Jacob... 10 lần! Nhà phẫu thuật Việt Nam trở thành người có nhiều kinh nghiệm cắt gan nhất thế giới.

Ngay trong những ngày Việt Nam chống Mỹ, báo The Lancet (Dao bầu) ở London, một tờ báo hằng tuần phát hành mỗi kỳ hơn 1 triệu bản, đã đăng bài báo khoa học của Tôn Thất Tùng nhan đề: Một phương pháp cắt gan mới. Bài báo lập tức gây tiếng vang rộng khắp. Chỉ một tháng sau, hơn 100 nhà phẫu thuật từ Mỹ đến Australia gửi thư đến Hà Nội xin GS Tùng cung cấp thêm tài liệu. Một số nhà bác học viết bài dè dặt hoan nghênh. Một số khác kịch liệt phản đối! Cái mới đích thực bao giờ xuất hiện mà chẳng gặp khó khăn?

Nếu năm 1939, Tôn Thất Tùng có phần nản lòng trước lời nhận xét bất công của Funck-Brentano, thì năm 1963, ông tự tin hơn, “một mình một ngựa” lao vào cuộc luận chiến tưởng chừng không cân sức với những tên tuổi lớn trong giới phẫu thuật quốc tế. Để làm được điều đó, ngoài việc tinh tường chuyên môn, còn phải hết sức thông thạo ngoại ngữ.

Cuối cùng, nhà phẫu thuật Việt Nam đã thắng!

Những người công kích ông dữ dội nhất, một khi đã thấu hiểu phương pháp mới lạ và độc đáo của ông, liền “phục thiện” trước chân lý, quay lại ca ngợi ông hết lời, coi ông là “người cha”, là vị “tổ sư” của phương pháp cắt gan có quy phạm, về sau được gọi là “phương pháp Tôn Thất Tùng” (Ton That Tung Method). Đúng như GS Hồ Đắc Di, “người thầy đầu tiên” của GS Tôn Thất Tùng, đã nói: “Khoa học là sự nổi dậy của tư duy!” Mệnh đề này có nghĩa: Một khám phá khoa học mới mẻ thường lật nhào những định kiến sai lầm thâm căn cố đế đã từng ngự trị hàng thể kỷ!

Cuốn Phẫu thuật cắt gan của Tôn Thất Tùng được Nhà xuất bản Masson in ở Pháp, sau đó, được Nhà xuất bản Meditsina dịch, in ở Nga. Phương pháp Tôn Thất Tùng được đưa vào Bách khoa thư Nội thương – Phẫu thuật của Pháp, và được in trong Chon lọc các Tài liệu Sản khoa và Phẫu thuật của Mỹ.

Năm 1977, Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris tặng GS Tôn Thất Tùng Huy chương Lannelongue. Đây là loại huy chương được đặt ra từ năm 1911 và cứ 5 năm mới tặng môt lần cho một người mà thôi. Người ấy, tất nhiên, phải là nhà phẫu thuật xuất sắc nhất thế giới trong thời gian đó.

Trong 70 năm ngắn ngủi của một đời người (1912-1982), GS Tôn Thất Tùng đã có một phát minh được coi là kinh điển, và để lại trong y văn thế giới 123 công trình.

Tên tuổi còn lại trên nhiều đường phố

Sau khi GS Tùng qua đời, nhiều nhà phẫu thuật trên thế giới vẫn tiếp tục sang Hà Nội học hỏi phương pháp Tôn Thất Tùng về cắt gan.

Năm 1985, cuốn Phẫu thuật cắt gan của Tôn Thất Tùng được Nhà xuất bản Minerva in ở Roma bằng tiếng Italy. Những cộng sự gần gũi của GS Tôn Thất Tùng như Nguyễn Dương Quang, Nguyễn Văn Vân, Tôn Thất Bách... nhiều lần được mời đến thuyết minh, biểu diễn cắt gan tại các Hội nghị Quốc tế về Gan - Mật. Phương pháp Tôn Thất Tùng được áp dụng ở nhiều nước.

Ông còn được thế giới trân trọng vì đã công bố những công trình mở đường cho việc nghiên cứu chất độc da cam/dioxin.

Năm 1984, GS Arthur H. Westing ở Stockholm cho in cuốn Chất diệt cỏ trong chiến tranh - những hậu quả lâu dài về mặt sinh thái học và đối với cơ thể con người, với lời để từ: “Cuốn sách này được để tặng vong linh GS Tôn Thất Tùng (1912-1982).”

GS Tôn Thất Tùng đã được Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Tại Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP.HCM và thị xã Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp) đều có những đường phố mang tên Phố Tôn Thất Tùng.

Hàm Châu




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa