Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Nhà giáo ưu tú Đại tá, Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Duy Tuân


 

 

( Ảnh  năm 2006 )

Phạm Văn Hựu

 

           Đại tá GS.TS Nguyễn Duy Tuân sinh ngày 8 tháng 12 năm 1928 tại Hà Nội, nguyên quán xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng (nay thuộc xã Đại Xuân, huyện Quế Võ) tỉnh Bắc Ninh. Là hậu duệ đời thứ 12 của Thuận Đức tộc, chắt nội cụ Phó Bảng Nguyễn Duy Tân ( thường gọi là Nguyễn Đình Nhuận, tên vua Tự Đức đặt cho Cụ ), sỹ phu yêu nước, đảm nhận chức Tam Tuyên Tổng Đốc (Tam Tuyên gồm 3 tỉnh Sơn Tây, Hưng Hoá và Tuyên Quang, địa giới tương ứng với địa bàn quân khu 2 ngày nay), nhân vật văn võ song toàn, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng dưới thời Tự Đức. Cụ là người trực tiếp chỉ huy quân sĩ dưới quyền anh dũng chiến đấu giữ thành Sơn Tây chống quân Pháp xâm lược trong 5 ngày đêm (từ 13 đến 17 tháng 12 năm 1883), diệt hàng trăm địch.

 Thân phụ là  Nguyễn Duy Tuyến, mất do lao phổi tháng 1 năm 1945, khi giữ chức Chánh án toà án tỉnh Vĩnh Yên. Thân mẫu là Vũ Thị Điểm, mất năm 1942 do bệnh lao phổi. Sinh trưởng trong một gia đình đông con, có 9 anh em, 5 người tham gia quân đội trong kháng chiến chống Pháp. Do có 5 con tham gia quân đội nên cụ ông thân sinh được Nhà nước truy tặng Huân chương kháng chiến hạng 3. Điều may mắn là cả gia đình đều đứng về một phía: tham gia cách mạng từ những ngày đầu và đi trọn vẹn con đường lựa chọn. Thuở nhỏ qua bậc tiểu học tại Hà Đông; trung học tại trường Albert Sarraut, Hà Nội; đỗ tú tài toàn phần ( toán ) tại trường Chu Văn An năm 1946; tiếp đó vào học trường đại học y khoa Chiêm Hoá, Tuyên Quang năm 1947 và nhập ngũ tháng 1 năm 1948 tại trường. Vừa học tại trường, vừa tham gia phục vụ chiến đấu theo yêu cầu của Nhà trường và Cục quân y từng năm. Đây là vòng tròn huấn luyện, đào tạo khép kín của thày trò trường Chiêm Hóa những năm kháng chiến chống Pháp với quy luật vòng sau rộng và cao hơn vòng trước.

     Trải qua nhiều cương vị công tác liên tục trong quân đội từ khi nhập ngũ cho đến khi nghỉ hưu. Năm 1949 đồng chí tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, hướng Long Châu, cùng với Đội phẫu thuật 2 của Trung đoàn 308 trên cương vị sinh viên thực tập. Tiếp đó 1950-1952 đảm nhiệm các chức vụ: Y sĩ  Phòng quân y Cục vận tải, Tổng cục hậu cần, phụ trách y tế dân công các chiến dịch Hoàng Hoa Thám và Quang Trung, trưởng ban quân y Trung trạm vận tải Liên khu 3-4. Giai đoạn 1952-1954, là Trưởng ban quân y Trung đoàn 48, Đại đoàn 320, phục vụ chiến đấu cùng Trung đoàn ở vùng địch hậu các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Hà Đông, Ninh Bình, Thái Bình. Tốt nghiệp bác sĩ năm 1955, được bổ nhiệm tiểu đoàn trưởng quân y, Chủ nhiệm quân y Sư đoàn 320 đến 6-1958. Trưởng ban kế hoạch, Phòng kế hoạch Cục quân y từ 6-1958 đến 9-1958. Từ 9-1958 đến hết năm 1965: Giảng viên, phụ trách Khoa quân y cần vụ ( nay là Bộ môn tổ chức-chỉ huy quân y ) Viện nghiên cứu y học quân sự (nay là Học viện quân y).Từ 1-1965 đến 7-1965: Giảng viên biệt phái, phụ trách bộ môn y học quân sự, Trường đại học y Hà Nội. Từ 8-1965 đến 6-1966: vào công tác các chiến trường B1 và B3 trên cương vị phái viên của Cục quân y. Từ 7-1966 đến 11-1966: Công tác tại cơ quan Cục quân y. Từ 12-1966 đến 4-1984: Hiệu trưởng Trường trung cấp quân y, Cục quân y (nay là Trường trung cấp quân y 1, Học viện quân y).Từ 5-1984 đến 12-1997: Chuyên viên Cục quân y. Đồng chí được nghỉ hưu cuối năm 1997, nhận quân hàm đại tá năm 1980, phó giáo sư năm 1984, giáo sư năm 1991. Bảo vệ luận án Phó tiến sĩ tại Học viện quân y năm 1988; được tăng danh hiệu “Nhà Giáo Ưu Tú ” năm 1990.

Là nhà sư phạm mẫu mực với ý nghĩa đầy đủ của từ THẦY GIÁO, đồng chí có phương pháp tiếp cận thích hợp với mỗi đối tượng học viên, thân thiện mà nghiêm túc, nội dung giảng dạy phong phú  bao hàm mà dễ hiểu, những giờ đứng lớp và hướng dẫn diễn tập thực binh bao giờ cũng  được người dự học mong chờ. Từ một giáo viên y học quân sự, khi được bổ nhiệm làm hiệu trưởng Trường trung cấp quân y, đồng chí đã quan tâm xây dựng các môn y học quân sự trong đào tạo y sĩ, dược sĩ, đưa nội dung huấn luyện sát thực tế chiến trường và chiến đấu. Đặc biệt, đã xây dựng và tổ chức các đợt huấn luyện tổng hợp dã ngoại cuối khoá, tạo điều kiện cho học viên làm quen với những khó khăn gian khổ trong hành quân đường dài và công tác thực tế của y sĩ, dược sĩ ở chiến trường. Do đó chất lượng huấn luyện từng bước được nâng cao, học viên ra trường làm tốt chức trách, được đơn vị tín nhiệm. Trung tướng bác sĩ Nguyễn Ngọc Thảo, nguyên Cục trưởng Cục quân y, nguyên Trưởng phòng quân y đoàn vận tải quân sự chiến lược 559 đã đánh giá về chất lượng đào tạo của Trường trung cấp quân y như sau: “Khi còn ở Đoàn 559, khi có học viên của Trường trung cấp quân y bổ sung cho Đoàn là tôi sẵn sàng tiếp nhận ngay, vì anh em có kiến thức cơ bản và năng lực thực hành tốt.”.

Mười tám năm liên tục  làm Hiệu trưởng trường Trung cấp quân y có lẽ là thời gian tỏa sáng nhất những giá trị cao đẹp của người chỉ huy đơn vị với hàng nghìn quân: đoàn kết chặt chẽ với Chính Ủy Nhà Trường TRẦN VỸ, cùng toàn thể ban lãnh đạo, chỉ huy Nhà trường, khắc phục muôn vàn khó khăn trong giảng dạy thời chiến, lãnh đạo và chỉ huy đơn vị xây dựng trường sở với quy mô khang trang, tiện nghi vào bậc nhất các trường trung học cả nước, bổ sung cho các đơn vị và chiến trường hàng nghìn y sĩ, dược sĩ có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong kháng chiến chống Mỹ, Trường trung cấp quân y đã được tặng thưởng 2 huân chương chiến công hạng ba. Mới đây, năm 2009, Nhà trường đã vinh dự được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Mỹ.

Cần thiết  nhấn mạnh đến vị trí , tầm quan trọng của  đội ngũ y dược  trung cấp là những người phục vụ chiến trường, chiến đấu đông đảo nhất, trực tiếp nhất và cũng chịu thương vong nhiều nhất trên mọi chiến trường Nam Bắc, mới thấy được phần nào những công lao to lớn của thày trò T1 (sau kháng chiến chống Mỹ, Trường trung cấp quân y được đổi tên thành Trường trung học quân y 1, nên thường gọi tắt là T1).

   Một điều đặc biệt hiếm quý, tất cả các học viên y dược đã qua đào tạo, huấn luyện tại trường Thầy Tuân, Thầy Vỹ, hai ba chục năm sau gặp lại vẫn nhắc đến những kỷ niệm đầy tự hào mang “Thương hiệu T1”( danh xưng đầy tự hào mang tính khóa lớp ) về một thời gian đẹp không thể nào quên trong quân ngũ, trong y nghiệp. Một số không nhỏ sau này phát triển trên nhiều cương vị khác nhau, có danh phận trong xã hội mà vẫn tập hợp họp mặt truyền thống T1, nhớ ơn trường xưa thày cũ. Trong nửa thế kỷ liên tục phục vụ và cống hiến dưới cờ Quyết Thắng thì có một phần tư  thế kỷ trực tiếp thực hành sự nghiệp giáo dục trong ngành quân y, đó là điều thử thách  không nhỏ và cũng là cơ hội hun đúc những phẩm chất cao đẹp, tạo lập những giá trị đích thực của Nhà Giáo Ưu Tú  Nguyễn Duy Tuân .

 

Thời gian công tác tại cơ quan Cục quân y với chức năng chuyên viên là thời gian cho phép GS.TS Nguyễn Duy Tuân xây dựng, thực hiện có kết quả những công trình khoa học quan trọng cấp bộ Quốc Phòng và Liên Bộ Quốc Phòng – Y tế. Trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX, đồng chí đã giúp lãnh đạo Bộ y tế và Cục quân y triển khai có hiệu quả chương trình y tế về kết hợp quân dân y (chương trình y tế số 12), một chương trình ngày càng có sức lan toả rộng rãi, cả ở Trung ương và các địa phương. Được nghỉ hưu từ năm 1997, đồng chí Nguyễn Duy Tuân vẫn miệt mài làm việc: tham gia đào tạo sau đại học tại Học viên quân y, viết sách cho Bộ y tế, Cục quân y và Trường trung cấp quân y 1, tiếp tục công tác tổng kết quân y trong chiến tranh, sưu tầm tư liệu lịch sử để viết sách về cụ nội: Xuân Đình tướng công Nguyễn Đình Nhuận vv…

GS.TS Nguyễn Duy Tuân là một trong những nhà khoa học có nhiều công trình khoa học nhất được đưa vào giảng dạy, xuất bản, phát hành trong toàn quân, lại trải qua nhiều cương vị bảo đảm chiến đấu trên nhiều chiến trường, thực sự là một nhà giáo chuyên nghiệp gắn liền thực tiễn với lý luận. Danh mục những công trình khoa học của GS.TS Nguyễn Duy Tuân

vừa đa dạng, vừa phong phú cả nội dung và thể loại .

 

- Bài giảng về Tổ chức và chiến thuật quân y cho bác sĩ quân y, giai đoạn 1962-1965.  In ronéo.

-          Bài giảng về Tổ chức và chiến thuật quân y cho quân y sĩ, giai đoạn 1966-1984. In ronéo.

-          5 kỹ thuật cấp cứu và chuyển thương hoả tuyến. Cục quân y xuất bản năm 1973. Chỉnh lý và tái bản năm 1994, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

-          Sổ tay quân y sĩ tiểu đoàn. Chủ biên. Cục quân y xuất bản năm 1972. Tái bản năm 1974.

-          Tài liệu lý luận và kinh nghiệm đào tạo trung học quân y. In ronéo.

-          Tổ chức và chiến thuật quân y, tập 1 và 2. Đồng chủ biên. Cục quân y xuất bản năm 1989 và 1994.

-          Công tác y tế quân sự địa phương bảo đảm cho tác chiến của khu vực phòng thủ. Cục quân y xuất bản, 1991.

-          Lịch sử kết hợp quân dân y Việt Nam . Chủ biên. Nhà xuất bản y học, 2006. Sách được tặng Giải thưởng Sách của Hội xuất bản năm 2007.

-          Tổ chức và chỉ huy quân y (Giáo trình giảng dạy trung cấp quân y). Chủ biên. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2008.

-          Thân thế và sự nghiệp Xuân Đình tướng công Nguyễn Đình Nhuận. Chủ biên. Nhà xuất bản Lao động, 2008.

-          Quá trình hình thành và phát triển của chuyên ngành Tổ chức và chỉ huy quân y Quân đội nhân dân Việt Nam . Chủ biên năm 2009. Chưa xuất bản

 

Các sách đã tham gia biên soạn:

-          Lịch sử quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập I, II, III và IV. Xuất bản năm 1991, 1995,1996 và 2006.

-          Tổ chức và chỉ huy quân y. Tập I và II. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2006.

 

            Các công trình nghiên cứu và tổng kết chiến tranh.

-          Trạm quân y Trung đoàn bộ binh trong chiến đấu tiến công. Công trình nghiên cứu thực hiện theo sự chỉ đạo của Cục quân y năm 1965.

-          Kinh nghiệm dạy tốt, học tốt của Trường trung học quân y 1, giai đoạn 1966-1984.

-          Một số nhận xét về tình hình cấp cứu và tử vong hoả tuyến của Sư đoàn bộ binh 7/Quân đoàn 4 trên chiến trường Campuchia trong chiến dịch tiến công năm 1979. Đề tài thực hiện theo sự chỉ đạo của Hội đồng khoa học kỹ thuật Cục quân y.

-          Một số nhận xét về tình hình bảo đảm quân y của Quân khu 2 trên Mặt trận Hoàng Liên Sơn từ 17-2-1979 đến 15-3-1979.

-          Tổng kết công tác quân y trong kháng chiến chống Mỹ. Phần tổng kết chiến lược. Chủ biên. Đề tài thực hiện theo chỉ đạo của Cục quân y.

-          Tổng kết công tác quân y bảo đảm cho chống chiến tranh lấn chiếm biên giới phía Bắc, giai đoạn 1984-1989. Chủ biên.

-          Các biện pháp tổ chức và kỹ thuật bảo đảm quân y cho Sư đoàn bộ binh trong điều kiện tác chiến mới. Đề tài cấp Bộ quốc phòng. Chủ nhiệm đề tài. Nghiệm thu năm 1995, loại xuất sắc.

-          Tổ chức cứu chữa vận chuyển thương binh bệnh binh trong kháng chiến chống Pháp. Chủ biên. Cục quân y nghiệm thu năm 2000, đạt loại xuất sắc.

 

      Những cống hiến to lớn nhiều mặt trong giáo dục, trong y nghiệp, trong chiến đấu của GS.TS Nguyễn Duy Tuân đã dược Nhà Nước  trao tặng : 2 huân chương chiến công hạng 3, Huân chương chiến thắng hạng 2, Huân chương quân công hạng 3, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, 3 huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng 1, 2 và 3, 2 huy chương vì thế hệ trẻ, huy chương vì sự nghiệp khoa học và công nghệ , huy chương vì sự nghiệp giáo dục, huy chương vì sự nghiệp y tế, bằng chứng nhận Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000; và nhiều năm là chiến sĩ thi đua của Đại đoàn 320 trong kháng chiến chống Pháp, Viện nghiên cứu y học quân sự, Cơ quan Cục quân y.

     Có lần tâm sự với tôi, đồng chí Tuân chân tình bộc bạch: “ Cuộc đời tôi gần 50 năm trong quân ngũ, đeo lon Đại tá, đạt tới học hàm học vị Giáo sư Tiến sĩ, được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, nhiều người, ngay cả những bạn bè gần gũi nhất, thường cho rằng con đường họan lộ của tôi là thuận buồm suôi gió. Nhưng ít ai hiểu được những gian truân, thăng trầm, mà tôi đã phải trải qua. Chỉ xin tâm sự với anh 2 khó khăn lớn nhất trong cuộc đời phục vụ quân đội của tôi:

-         Thứ nhất là quá trình đến với Đảng và giữ vững sinh hoạt Đảng. Chắc anh chưa biết là tôi được kết nạp vào Đảng 2 lần. Lần thứ nhất là ngày 15 tháng 12 năm 1952. Lúc đó, tôi đang là Trưởng ban quân y Trung đoàn 48 Đại đoàn 320. Tôi được kết nạp Đảng ở vùng địch hậu Nam Định ngay sau trận chống càn thắng lợi của Trung đoàn ở miền Nam Nam Định (trận càn Bretagne). Đây là phần thưởng lớn của Đảng với tôi, do tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong việc cứu chữa vận chuyển thương binh. Hàng trăm thương binh của Trung đoàn đã được cứu chữa và vận chuyển kịp thời ra vùng tự do; mặc dù Trung đoàn phải vừa chống càn, vừa di chuyển, nhưng không một thương binh nào không được cứu chữa, bị lạc hoặc sa vào tay địch. Tuy nhiên, hết thời hạn dự bị, khi đơn vị đề nghị chuyển Đảng chính thức cho tôi, thì không được cấp trên chấp nhận. Và đầu năm 1955, tôi được thông báo chính thức là cấp trên đã quyết định xoá tên Đảng viên của tôi. Lý do: tôi đã không thành khẩn khai báo lý lịch khi kết nạp Đảng. Đây là khuyết điểm của tôi. Tôi cay đắng đón nhận quyết định xoá tên và đã hứa trước chi bộ là sẽ nỗ lực phấn đấu để được trở lại hàng ngũ của Đảng. Tôi làm đúng như đã hứa và ngày 4 tháng 5 năm 1957, tôi được kết nạp Đảng lần hai tại Sư đoàn 320. Về sau còn có 1 quyết định nữa của trên, quy định: tôi được sinh hoạt Đảng, nhưng không được tham gia cấp uỷ. Anh ở trong quân đội lâu năm chắc hiểu rõ cái khó của một người chỉ huy trưởng đơn vị mà lại không ở trong cấp ủy. Tuy nhiên, trong cái khó có cái hay: 18 năm làm hiệu trưởng ở Trường trung cấp quân y, tôi luôn cố gắng giữ mình trong sạch, trong sáng và gương mẫu trong công tác, về tác phong, đạo đức, sinh hoạt… Vì tôi hiểu rõ: chỉ cần một va vấp nhỏ có thể sẽ bị xử lý cứng rắn ngay.

-         Xin nói tiếp với anh đến khó khăn thứ hai. Thực tình mà nói, tôi là người ít được học tại trường. Anh biết rồi: ở trường đại học y khoa Chiêm Hoá, thời gian chúng tôi đi phục vụ chiến trường nhiều hơn thời gian được học tại trường. Khi về làm giáo viên Tổ chức chiến thuật quân y (nay dùng thuật ngữ Tổ chức và chỉ huy quân y) ở Viện nghiên cứu y học quân sự (nay là Học viện quân y), nhiều người cứ nghĩ chắc tôi đã qua Học viện quân y Ki-rôp, Lê-nin-grat. Nhưng tôi đã bao giờ đặt chân đến Liên Xô đâu. Trong cái khó lại có cái hay: tôi đã buộc mình phải tự học tiếng Nga, tập đọc và dịch các sách về Tổ chức và chiến thuật quân y của Liên Xô do anh Mậu (thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Thúc Mậu, nguyên Giám đốc Học viện quân y) mang ở Lê-nin-grat về, để có thể làm tốt công tác giảng dạy của mình”.

 

          Sự nghiệp tốt đẹp, đáng tự hào của GS.TS Nguyễn Duy Tuân luôn có một hậu phương lý tưởng : bà Vũ Thị Lựu , phu nhân của GS.TS Nguyễn Duy Tuân, nguyên phó hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Phan Đình Phùng Hà Nội là điểm tựa trung hậu, đảm đang cùng gia đình vượt qua mọi thăng trầm lịch sử.

 

 

Giáo sư Nguyễn Duy Tuân cùng phu nhân Nhà Giáo Vũ Thị Lưu

( Ảnh năm 2006 )

 

Truyền thống của nhân dân ta, thời nào cũng vậy “ trọng xỉ hơn trọng hàm “ ( xỉ = răng , niên xì = tuổi ; hàm = quan tước, học vị…), trong cộng đồng nông thôn phường xã, đô thị ngày nay rất quý trọng người cao tuổi. Đó là nét đẹp văn hóa tồn lưu cùng non sông dất nước. Không phân biệt phú bần, quý tiện, cộng đồng cư dân thường chia xẻ phấn khởi với những vị nào vượt qua tuổi tám mươi mà làm được một trong ba điều  lập đức, lập công lập ngôn. Ba điều này đã hội đủ trong sự nghiệp của GS.TS Nguyễn Duy Tuân ,  xin thể hiện theo cách khái quát của tiền nhân trong bốn chữ :

三立之彰

 

TAM LẬP CHI CHƯƠNG

 

Tỏa sáng ba điều : lập đức, lâp công, lập ngôn

 

Tháng ba năm 2011




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa