Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỘI QUÂN Y ĐẶC NHIỆM trong chiến tranh khu vực và xung đột vũ trang ở Liên bang Nga


 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỘI QUÂN Y ĐẶC NHIỆM

trong chiến tranh khu vực và xung đột vũ trang ở Liên bang Nga

Thiếu tướng quân y KORNHIUSKÔ và CS Tạp chí Y học Quân sự Liên bang Nga, 9/2011 Lược dịch: PGS. TRỊNH VĂN LUẬN

 

Trong tình hình quốc tế hiện nay, nguy cơ chiến tranh thế giới giảm đi, nhưngchiến tranh khu vực và xung đột vũ trang vẫn có thể xảy ra. Những yếu tố chính trong chiến tranh khu vực và xung đột vũ trang ảnh hưởng đến tổ chức bảo đảm quân y là:

- Hoạt động vũ trang hạn chế về quy mô và không gian.

- Thời gian hoạt động vũ trang có thể ngắn hoặc kéo dài.

- Ranh giới chiến tuyến không rõ ràng.

- Phương tiện hiện đại gây tổn thương được sử dụng.

- Đối phương sử dụng các hành động khủng bố, kể cả hành động khủng bố quốc tế.

- Cường độ chiến đấu có thể tăng hoặc giảm gây ảnh hưởng đến tổn thất quân y.

- Đối phương có thể sử dụng vũ khí thông thường, kể cả vũ khí gây tổn thương lớn gây tổn thất lớn cho quân đội và nhân dân.

- Trong xung đột vũ trang quy mô nhỏ, lực lượng chiến đấu được huy động trong phạm vi quân khu, trong các binh chủng, trong Bộ Nội vụ...

- Quân y có điều kiện sử dụng phương tiện vận chuyển người bị thương bằng đường không.

Để làm kế hoạch tổ chức bảo đảm quân y trong chiến tranh khu vực và xung đột vũ trang, cần chú ý những đặc điểm sau:

- Tổn thất quân y trung bình 1 ngày đêm là 1,1-2% ở cấp lữ đoàn, 0,25% ở cấp trung đoàn, sư đoàn thê đội 2; tổn thất quân y trung bình 1 tháng là 2,1-4,4% so với quân số.

- 15% thương binh, bệnh binh với thời gian điều trị khỏi trong vòng 5-15 ngày có thể giữ lại điều trị đến khỏi tại trạm quân y lữ đoàn, trung đoàn.

- Phần lớn thương binh (85%) cần điều trị trong vòng 30 ngày, trong số đó có 40% thương binh nhẹ cần giữ lại điều trị đến khỏi ở bệnh viện quân khu, nơi xảy ra xung đột vũ trang. Số thương binh còn lại sau 3-5 ngày được cứu chữa chất lượng và chuyên khoa, được vận chuyển ra khỏi khu vực có xung đột vũ trang, đưa về các bệnh viện quân khu lân cận hoặc về bệnh viện trung ương.

- Trong cơ cấu tổn thất quân y có 35-45% là bệnh binh mắc bệnh truyền nhiễm, thần kinh, tâm thần, bệnh ngoài da và các bệnh nội khoa khác.

- Tổn thất quân y có thể xảy ra do nhiễm xạ, nhiễm chất độc hóa học trong trường hợp các mục tiêu năng lượng hạt nhân, các xí nghiệp hóa chất bị phá hoại tại khu vực xung đột vũ trang hoặc ở hậu phương.

- Có khoảng 85% thương binh, bệnh binh cần vận chuyển bằng đường không ra khỏi khu vực xung đột vũ trang. Số còn lại được vận chuyển bằng đường bộ.

Công tác bảo đảm quân y trong chiến tranh khu vực và xung đột vũ trang được tổ chức theo tuyến:

- Tuyến 1: cấp cứu đầu tiên, cứu chữa đầu tiên do bác sĩ, cứu chữa chất lượng tối khẩn cấp được thực hiện ở quân y trung đoàn, sư đoàn.

- Tuyến 2: cứu chữa chất lượng và một phần chuyên khoa (khi được tăng cường), được thực hiện tại các đội quân y đặc nhiệm (MOCH) và bệnh viện đồn trú trong khu vực.

- Tuyến 3: cứu chữa chuyên khoa công nghệ cao tại các bệnh viện tuyến cuối quân khu, bệnh viện trung ương. Biện pháp tối ưu là thương binh được vận chuyển sớm từ tuyến 1 về các cơ sở cứu chữa chuyên khoa.

Trong chiến tranh khu vực và xung đột vũ trang, lực lượng bảo đảm quân y gồm cơ sở hạ tầng quân y quân khu bố trí theo nguyên tắc khu vực, các đội quân y đặc nhiệm, lực lượng và phương tiện tăng cường của các quân khu khác và của trung ương. Các bệnh viện quân y bố trí sẵn trên hướng vận chuyển có vị trí quan trọng và cần được tăng cường về ngoại khoa, gây mê hồi sức.

1. Trong thời kỳ chiến dịch chống khủng bố ở Bắc Capcadơ (1994-1996), để cứu chữa chất lượng và chuyên khoa, lực lượng quân y gồm các tổ chức sau:

- 3 đội quân y đặc nhiệm ở 3 hướng, 2 đội vệ sinh phòng dịch, 1 phân đội kho quân y cơ động. Ngoài ra còn có 1 bệnh viện quân y và 1 đội quân y đặc nhiệm được tăng cường bởi các tổ chuyên khoa từ Học viện Quân y Kirôp S.M và từ một số bệnh viện trung ương để làm nhiệm vụ cứu chữa một phần chuyên khoa.

Trung bình 1 ngày các đội quân y đặc nhiệm thu dung từ 50-70 thương binh, bệnh binh (có ngày hơn 200), phẫu thuật 10-15 ca, 71,3% thương binh được cứu chữa chất lượng trong vòng 4 giờ sau khi bị thương, 13,6% sau 4-6 giờ và 15,1% sau hơn 6 giờ.

Cứu chữa chất lượng chủ yếu là tối khẩn cấp được thực hiện trung bình từ 30-40% so với số thương binh thu dung. Cứu chữa chuyên khoa một phần được thực hiện ở đội quân y đặc nhiệm và bệnh viện quân y tăng cường. Thương binh được vận chuyển bằng trực thăng theo chỉ định về các tuyến sau. Một phần thương binh được vận chuyển về tuyến sau từ các tuyến cứu chữa đầu tiên do bác sĩ và từ tuyến tiểu đoàn.

Công tác cứu chữa ở các đội quân y đặc nhiệm có những đặc điểm sau:

- Các đội quân y đặc nhiệm bố trí gần tuyến chiến đấu nên có điều kiện cứu chữa chất lượng sớm.

- Nhờ có vận chuyển bằng trực thăng nên thời gian điều trị tạm thời ở các đội quân y đặc nhiệm rút gắn còn 1,5-2 ngày.

- Các đội quân y đặc nhiệm được trang bị phương tiện chẩn đoán hiện đại (máy X quang, siêu âm...) nên chất lượng chẩn đoán, cứu chữa được nâng cao.

Công tác cứu chữa ở các đội quân y đặc nhiệm còn chứng minh trong chiến dịch chống khủng bố ở Tresnhia có thể tiếp cận cứu chữa chuyên khoa cho thương binh, bệnh binh bằng cách tăng cường các tổ chuyên khoa cho đội quân y đặc nhiệm và bệnh viện quân y khu vực.

2. Kinh nghiệm bảo đảm quân y trong cuộc xung đột vũ trang đầu tiên ở Cộng hòa Tresnhia đã được vận dụng trong chiến dịch chống khủng bố ở Cộng hòa Daghestan và Cộng hòa Tresnhia từ năm 1999-2002.

Để tổ chức bảo đảm quân y, đã huy động quân y của các trung đoàn, sư đoàn, 4 đội quân y đặc nhiệm, 3 bệnh viện quân y thê đội 1 bố trí trên các hướng. Lực lượng dự bị gồm 1 đội quân y đặc nhiệm, 6 tổ quân y tăng cường, 2 phân đội của đội vệ sinh phòng dịch khu vực, 2 phân đội cơ động kho quân y, 1 tổ sửa chữa kỹ thuật. Ngoài ra còn có sự tham gia của hệ thống quân y khu vực thuộc quân khu Bắc Capcadơ.

Trong cơ cấu thương binh thu dung tại các đội quân y đặc nhiệm, có 43,7% thương binh do hỏa khí, 19,7% do các loại chấn thương khác. Số vết thương đơn độc chiếm 45,3%, nhiều vết thương chiếm 30,3%, vết thương phối hợp chiếm 24,4%. Chiếm phần lớn là vết thương chi thể (67,3%), rồi đến vết thương đầu (10,7%). Hơn một nửa là số vết thương nhẹ (55,6%). 20% thương binh được chuyển đến trong tình trạng nặng và rất nặng.

Công tác cứu chữa chất lượng đã được thực hiện cho 55,7% thương binh, số còn lại được cứu chữa đầu tiên do bác sĩ. Trong số các trường hợp phẫu thuật chất lượng, có 12,2% phẫu thuật tối khẩn cấp, 10,5% phẫu thuật khẩn cấp, 33% phẫu thuật trì hoãn. Một đặc điểm nữa trong chiến tranh khu vực là phần lớn số bệnh binh tạm thời phải nghỉ việc là do những rối loạn tâm thần và mệt mỏi.

3. Trong chiến dịch bảo vệ hòa bình ở Gruzia, để bảo đảm quân y đã sử dụng lực lượng và phương tiện quân y của Quân khu Bắc Capcadơ. Lần đầu tiên đội quân y đặc nhiệm của quân khu đã triển khai các tổ hợp, các mô-đun chức năng để cứu chữa chất lượng và cứu chữa chuyên khoa trong điều kiện gần giống như các cơ sở tĩnh tại. Ngoài ra, còn triển khai đội quân y đặc nhiệm của Quân khu Privônscơ - Uranski. Các đội quân đặc nhiệm điều trị ngoại trú cho 570 người, thu dung 253 thương binh, bệnh binh, vận chuyển về tuyến sau 161 thương binh, bệnh binh.

Lực lượng dự bị gồm 3 đội quân y đặc nhiệm, đội bác sĩ y tá, đội chuyên khoa tăng cường thuộc Học viện Quân y Kirôp S.M, bệnh viện trung ương và các bệnh viện quân khu khác.

Kinh nghiệm bảo đảm quân y trong chiến tranh khu vực và xung đột vũ trang cho thấy:

1. Lực lượng, phương tiện bảo đảm quân y chủ yếu là cơ sở hạ tầng quân y quân khu, bố trí theo nguyên tắc khu vực và các đội quân y đặc nhiệm. Các đội quân y đặc nhiệm có khả năng cơ động đến gần khu vực chiến đấu và triển khai các loại hình cứu chữa cho thương binh, bệnh binh.

2. Để thực hiện các biện pháp cứu chữa, vận chuyển thương binh, bệnh binh, cần tiếp cận cứu chữa ngoại khoa cho thương binh và thực hiện 2 tuyến cứu chữa có hiệu quả và kinh tế hơn. Đội quân y đặc nhiệm là tổ chức quân y cơ động chủ yếu trong tuyến trước bệnh viện. Nhờ tiếp cận các tuyến quân y đến khu vực chiến đấu nên đã rút ngắn được thời gian cứu chữa chất lượng, cứu chữa chuyên khoa, đã trả về đơn vị chiến đấu được 90% thương binh, giảm tỉ lệ tử vong còn 1,5% ở tuyến quân y.

3. Cần hoàn thiện tổ chức biên chế các đội quân y đặc nhiệm nâng cao khả năng cơ động, hoạt động độc lập, trang bị kỹ thuật quân y, thực hiện nguyên tắc hoạt động theo mô-đun, mỗi mô-đun có khả năng hoàn thành chức năng được giao. 

Chuyển website: quandany.com

PHẠM NGỌC ĐÍNH - VĂN HỮU NHÂN




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa