Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

SỰ NGHIỆP HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA THIẾU TƯỚNG ĐOÀN QUANG THÌN – NGUYÊN CHÍNH ỦY CỤC QUÂN Y


 SỰ NGHIỆP HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA THIẾU TƯỚNG ĐOÀN QUANG THÌN –  NGUYÊN CHÍNH ỦY CỤC QUÂN Y            

                                                                    BS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

 

Thiếu tướng Đoàn Quang Thìn có tên khai sinh là Đoàn Quang Huy, sinh năm 1916 tại đồn điền cao cu Cửa Rào, thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nhưng quê gốc của ông lại ở xã Yên Trì (nay là xã Hiệp Hòa), huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên (nay là tỉnh Quảng Ninh).

Thân phụ của ông là cụ Đoàn Quang Cảnh, ngay từ tuổi ấu thơ đã có tiếng học giỏi vào loại nhất nhì tỉnh Quảng Yên. Khi cụ đang chuẩn bị dự thi Hương thì nhà nước Bảo hộ bãi bỏ các kỳ thi chữ Nho, chuyển sang dạy tiếng Pháp. Tuy đỗ đạt cao, nhưng cụ Đoàn Quang Cảnh không ra làm quan, mà trở về quê Yên Trì sống cảnh điền viên. Dân làng Yên Trì vì nể trọng học vấn của cụ, đã mua cho cụ chức lý trưởng. Khi làm lý trưởng, dân làng giao cho cụ phải làm chủ công trình xây dựng đình làng. Vì dân nghèo đói, sự đống góp không đủ tiền xây đình, cụ đã bán ngôi nhà cổ bằng gỗ lim vào loại to và đẹp nhất làng để lấy tiền xây đình. Bán hết mọi tài sản để có tiền hoàn thành công trình của làng giao, gia đình cụ lâm vào cảnh túng bấn, nợ nần. Buồn chán và tiêu cực, cụ chỉ biết lấy rượu giải sầu. Năm 1904, nhân có đợt mộ phu vào đồn điền cao su Cửa Rào, cụ đã đem cả gia đình vào làm phu ở đồn điền cao su Cửa Rào. Khi Đoàn Quang Huy được 1 tuổi thì cụ qua đời.    

Sự nghiệp hoạt động cách mạng của Thiếu tướng Đoàn Quang Thìn rất phong phú và trải qua nhiều giai đoạn cách mạng, kể từ năm 1930 khi Đảng ta mới được thành lập.

Năm 1928, khi mới 12 tuổi, ông được thầy giáo Nguyễn Văn Liên, quê ở Thanh Chương Nghệ An, là đảng viên cộng sản lên vùng Cửa Rào dạy học để bí mật hoạt động. Thầy Liên đã trọ ở nhà ông. Qua những ngày được thầy Liên dạy dỗ và khơi dậy lòng yêu nước, ông đã giác ngộ cách mạng. Năm 1930 khi phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh đang ở thế cao trào, ông được mẹ gửi về trường Cologne Vinh học tiếp. Trong những ngày sục sôi phong trào đấu tranh của công nhân ở Thành phố Vinh – Bến Thủy, ông đã cùng học sinh, sinh viên tham gia các cuộc mít tinh, bãi khóa của công nhân. Khi phong trào Xô viết –Nghệ Tĩnh bị địch dìm trong bể máu, ông đã kêu gọi binh lính ngụy người địa phương không bắn giết những người biểu tình. Thấy địch khủng bố quá dã man, mẹ ông sợ hãi đã đem cả gia đình về quê Yên Trì sinh sống. Vì xa quê hương quá lâu, nên ông bị dòng tộc họ Đoàn quên lãng, không đưa vào gia phả. Vì vậy, gia tộc đã quyết định đổi tên ông từ Đoàn Quang Huy thành Đoàn Quang Thìn, vì ông sinh vào năm Bính Thìn.

Về quê, ông xin học việc tại một tiệm may nổi tiếng ở thị xã Quảng Yên. Trở thành người thợ may có tay nghề giỏi, ông đã tập hợp được một số người làm nghề may, nghề đóng giầy trong vùng có xu hướng tiến bộ, nói được tiếng Pháp mở một tiệm may với tên gọi là Matinal (Bừng tỉnh) và một tiệm giầy với tên gọi là Solida (Đoàn kết), với tâm nguyện mong muốn tầng lớp thanh niên ở huyện Yên Hưng nói riêng và ở tỉnh Quảng Yên nói chung sớm giác ngộ cách mạng và đoàn kết nhằm đánh đổ chế độ thực dân phong kiến. Sau một thời gian hoạt động bí mật, do nói thạo tiếng Pháp, ông được đồng chí Lương Khánh Thiện - ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ và đồng chí Bùi Đăng Chi – chủ nhiệm Báo Tin tức cử người về Quảng Yên mời ông lên Hà Nội. Tại đây, ông được tổ chức đưa vào làm việc cho một tiệm may có tiếng về may âu phục ở Hà Nội nhằm gây cơ sở hoạt động bí mật lâu dài, đồng thời để trực tiếp bồi dưỡng thêm cho ông về nhận thức chính trị, về phương thức hoạt động bí mật. Sau một thời gian, ông đã đào tạo được một lớp thợ may giỏi, có nhiệt huyết với phong trào yêu nước. Những người thợ này được tổ chức cử về các tỉnh Quảng Yên, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn, sang cả Phnôm Pênh (Cămpuchia) và Viêng Chăn (Lào) để làm nòng cốt xây dựng các hội Ái Hữu, vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ.

Tháng 7/1936, ông được đồng chí Lương Khánh Thiện kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đầu năm 1937, Xứ ủy Bắc Kỳ điều vào Huế để tăng cường lực lượng cho hội Ái Hữu, hội Tương Tế ở các tỉnh Trung Bộ. Khi tới Huế, ông được đồng chí Phan Đăng Lưu – Bí thư lâm thời Xứ ủy Trung Kỳ và đồng chí Trần Công Xứng - ủy viên Thường vụ Xứ ủy giao nhiệm vụ là bí thư của một chi bộ hoạt động bí mật và tổ chức hội Ái hữu tỉnh Thừa Thiên – Huế. Cuối tháng 9/1939, do có người phản bội tổ chức, đã khai báo với mật thám, nên ông và hai đồng chí Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh đã bị địch bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ. Sau 3 năm bị cầm cố, địch buộc phải đưa ông về Quảng Yên để tiếp tục quản thúc thêm 3 năm nữa. Trước khi ra tù, ông được đồng chí Nguyễn Chí Thanh – bí thư chi bộ trong nhà lao Thừa Phủ căn dặn “Về Quảng Yên đồng chí cứ tiếp tục hoạt động, không cần tôi phải giới thiệu mà Đảng sẽ tìm đến đồng chí”.

Trong thời gian bị quản thúc tại Quảng Yên, tên Cung Đình Vận – tỉnh trưởng tỉnh Quảng Yên đã dùng nhiều thủ đoạn, vừa dụ dỗ, vừa răn đe với hy vọng sẽ làm cho ông từ bỏ con đường hoạt dộng chính trị. Bằng sự khôn khéo, ông đã thuyết phục được người nhà tên Cung Đình Vận giúp đỡ, để ông được làm những việc ở thị trấn Yên Hưng và tỉnh lỵ Quảng Yên. Sau đó, ông được cơ sở của Đảng bí mật tổ chức đưa xuống Hải Phòng để móc nối tìm cơ sở bí mật của Đảng. Năm 1943, khi tên Cung Đình Vận bị đổi lên Thái Nguyên, ông lại bí mật trở về Quảng Yên để hoạt động. Ông đã được Xứ ủy Bắc kỳ giao nhiệm vụ “tổ chức Việt Minh liên tỉnh Quảng Yên – Móng Cái”. Tháng 4/1945, chỉ sau ngày Nhật đảo chính Pháp được một tháng, ông được đồng chí Lê Liêm - ủy viên Xứ ủy Bắc kỳ và đồng chí Hoàng Văn Nhẫn, vốn là bạn tù với đồng chí Trần Cung và Nguyễn Hải Thanh trong những năm bị tù đày ở nhà tù Căng Bá Vân (Hà Giang) giới thiệu với 3 đồng chí lãnh đạo chiến khu Đông Triều là Nguyễn Hải Thanh, Trần Cung và Nguyễn Bình. Chỉ ít tháng sau thì các tổ chức Việt Minh ở Đông Triều, Móng Cái và Quảng Yên được liên kết thành một khối thống nhất, đã đưa phong trào cách mạng ở Quảng Yên, Móng Cái, Mạo Khê phát triển mạnh mẽ. Ngày 8/6/1945, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Bình, các đơn vị vũ trang của chiến khu Đông Triều đã chiếm được 4 đồn địch dọc đường 18 là Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch và Đông Triều. Sau chiến thắng này, ông được đồng chí Lê Thanh Nghị - ủy viên Thường vụ Ủy ban quân sự Bắc kỳ giao nhiệm vụ chỉ đạo phong trào cách mạng vùng duyên hải khu Đông bắc. Chớp thời cơ quân đội Nhật đang đứng trước nguy cơ bại trận, ngày 10/7/1945, ông cùng đồng chí Nguyễn Bình đã tổ chức thắng lợi trận chiến đấu đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên và huyện lỵ Yên Hưng. Đến cuối tháng 8/1945, ông được Xứ ủy Bắc Kỳ giao nhiệm vụ thành lập Ban chính trị của chiến khu Đông Triều.

Cuối tháng 9/1945, ông nhập ngũ, công tác tại Quận ủy Hội do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách. Ông lần lượt được giao nhiệm vụ là chính trị viên trung đoàn 98 Đông Triều, trung đoàn 64 Tiên Yên và trung đoàn 45 Móng Cái. Ông cùng với các đơn vị chiến đấu, từng bước giải phóng các huyện Tiên Yên, Bình Liêu, Đầm Hà, Đình Lập, Hà Cối thuộc khu đông bắc hai tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh. Khi quân khu 3 được thành lập, ông lại được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ là ủy viên khu ủy Quân khu  3 và trưởng phòng chính trị Quân khu 3.

Trong thời gian công tác ở Quân khu 3, ông đã có công phát hiện một vụ in tiền giả ở trung đoàn 98, do Nguyễn Sơn - trung đoàn phó chủ mưu, nhằm lập quỹ trái phép để mua vũ khí, với mưu đồ lập chiến khu mới, không phụ thuộc vào Quân khu 3; một vụ làm nội phản cũng do Nguyễn Sơn chủ mưu. Khi mọi việc đã được Bộ Quốc phòng chỉ đạo làm sáng tỏ, Nguyễn Sơn đã bị xử bắn.

Năm 1950, ông được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ phụ trách lớp đào tạo cán bộ trung sơ cấp của trường Lục quân, khi đó đóng ở Sói Mít (Thái Nguyên). Học được vài tháng thì nhà trường được lệnh chuyển sang Vân Nam (Trung Quốc) để Bạn giúp đào tạo lớp sỹ quan chỉ huy binh chủng hợp thành, chuẩn bị cho chiến cuộc Đông – Xuân 1953 – 1954. Trong gần 3 năm học tập ở Trung Quốc, không những ông đã tích cực học tập, mà còn động viên các học viên khắc phục mọi khó khăn về ngôn ngữ, về trình độ văn hóa để tiếp thu kiến thức khoa học quân sự, tích cực thực hành kỹ thuật, nhằm sử dụng tốt các vũ khí, khí tài hiện đại mới được trang bị để về nước tham gia chiến đấu. Đầu năm1954, khóa học kết thúc, ông và các học viên được lệnh về nước, mang theo nhiều khẩu trọng pháo, đạn dược, khí tài, kịp thời tham gia các trận pháo kích, cùng với các đại đoàn bộ binh tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cũng từ lớp học này, đã xuất hiện nhiều cán bộ chỉ huy, tham mưu giỏi, góp phần đáng kể vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đã gây lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Năm 1955, ông được giao nhiệm vụ là Cục trưởng Cục Cán bộ, cũng là thời điểm quân đội ta chuẩn bị mọi yếu tố để triển khai nhiệm vụ xây dựng quân đội từng bước tiến lên chính quy, tinh nhuệ và thực hiện chế độ quân hàm. Ông là một trong số ít cán bộ được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng  giao nhiệm vụ chuẩn bị việc thiết kế mẫu quân hàm, việc xét phong quân hàm cho từng đối tượng cán bộ quân đội, chuẩn bị mẫu huân huy chương và sau đó chủ trì việc biên soạn Luật nghĩa vụ quân sự, Luật Sỹ quan và Kế hoạch 5 năm (1955 – 1960) đào tạo huấn luyện cán bộ quân đội cho toàn quân, trong đó có việc đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt cho chiến trường miền Nam. Năm 1956, ông lại được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ là chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh. Năm 1957, đồng chí Nguyễn Hải Thanh – chính ủy Cục Quân y được trên chuyển ra ngoài, đảm nhận cương vị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ông lại được giao nhiệm vụ làm chính ủy Cục Quân y.

Tại thời điểm ông làm chính ủy, thì cơ quan Cục Quân y đang khẩn trương thực hiện nhiệm vụ củng cố và xây dựng ngành Quân y từng bước tiến lên theo sự phát triển của quân đội. Các cơ sở điều trị trong Ngành đã phát triển và có nhiều chuyển biến về chuyên môn, kỹ thuật. Hàng nghìn cán bộ các cấp đã được bổ túc, đào tạo tại các trung tâm huấn luyện trong nước và gửi ra nước ngoài đào tạo chuyên ngành. Hệ thống tổ chức của Ngành cũng từng bước được củng cố, trang bị kỹ thuật được tăng cường và đổi mới.

Một trong những vấn đề được lãnh đạo Cục Quân y lúc đó quan tâm nhất là tập trung mọi nỗ lực và khả năng để chỉ đạo Viện quân y 108 từng bước xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên môn có trình độ cao, để tiếp thu các kỹ thuật điều trị mới do đoàn chuyên gia Bungari hướng dẫn và sử dụng tốt các phương tiện và trang bị y tế do Cộng hòa dân chủ Đức viện trợ. Không chỉ vững mạnh về nghiệp vụ chuyên môn, Viện quân y 108 còn cần phải phấn đấu vững mạnh về chính trị, tư tưởng và thấm nhuần quan điểm phục vụ thương bệnh binh, để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ là bệnh viện tuyến cuối toàn quân.

Năm 1957 – 1958, do tư tưởng tư sản lũng đoạn và bị ảnh hưởng của nhóm Nhân văn - Giai phẩm len lỏi vào một số đơn vị quân đội, nên đã có một số cán bộ quân y, trong đó có cả đảng viên cho là Đảng chỉ có thể lãnh đạo đường lối, chính sách, không thể lãnh đạo được chuyên môn, kỹ thuật. Nhiều cán bộ, nhân viên quân y còn có những nhận thức sai lệch về đường lối, quan điểm của Đảng, hoặc có tư tưởng chủ nghĩa cá nhân và có quan điểm y học tư sản. Thậm chí có không ít cán bộ chỉ thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng ở cấp Tổng Quân ủy và Ban Chấp hành Trung ương Đảng; không thừa nhận sự lãnh đạo của tổ chức Đảng ở cơ sở.

Trên cương vị là chính ủy, ông đã dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu tìm hiểu công tác Đảng, công tác chính trị tư tưởng trong ngành Quân y. Ông nhận thấy, từ trước năm 1950, tổ chức đảng trong ngành Quân y còn đơn giản, nên công tác chính trị chủ yếu tập trung vào việc quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và của quân đội vào các mặt công tác quân y. Từ sau chiến dịch Biên Giới, nhiệm vụ của ngành Quân y càng nặng nề, nên Tổng cục Chính trị đã đưa vào ngành Quân y một số cán bộ chính trị và chỉ đạo xây dựng thành hệ thống tổ chức đảng, hệ thống tổ chức công tác chính trị, tư tưởng. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng ngày càng chặt chẽ, tổ chức Đảng trong ngành Quân y ngày càng vững mạnh. Đứng trước những vấn đề phức tạp về nhận thức chính trị và tư tưởng mới nảy sinh ở một số cán bộ, đảng viên, chính ủy Đoàn Quang Thìn đã chủ động bàn bạc, trao đổi trong Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy Cục Quân y. Bằng bản lĩnh chính trị vững vàng, nhạy bén, đã kinh qua nhiều cương vị lãnh đạo công tác chính trị ở các đơn vị, ông nhận thức rằng quân đội ta đã bắt đầu bước vào giai đoạn mới, với nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Ngành Quân y cũng phải tập trung giải quyết tốt mọi vấn đề về y học và y học quân sự, để từng bước giải quyết được những yêu càu của công tác huấn luyện chiến đấu đang đòi hỏi cấp bách. Từ quan điểm nhận thức đó, ông đã thống nhất với bác sỹ Vũ Văn Cẩn và các ủy viên trong Ban Thường vụ Đảng ủy cần xác định rõ công tác chính trị tư tưởng là một trong những vấn đề có vị trí quan trọng nhất, vì ngành Quân y là ngành Quân y cách mạng, vì quân đội ta được Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo và xây dựng. Ngành Quân y phải có chức năng góp phần bảo đảm mọi yêu cầu về xây dựng và chiến đấu của quân đội. Vì vậy, nhiệm vụ chính trị của Cục Quân y lúc này là tiếp tục tiến theo con đường y học cách mạng, mở cuộc tiến công triệt để và toàn diện chống tư tưởng tư sản, tiểu tư sản; tẩy trừ sự ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, đế quốc; làm cho tình hình chính trị tư tưởng của cơ quan Cục quân y nói riêng và ngành Quân y nói chung phù hợp với sự phát triển của cách mạng, phải củng cố lập trường giai cấp, nêu cao tinh thần phục vụ bộ đội, phục vụ thương bệnh binh.

Sau hội nghị quân y lần thứ 14, ông cùng với Thường vụ Đảng ủy và chỉ huy Cục Quân y tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Ngành, trong đó tập trung đúng mức đến công tác Đảng, công tác chính trị ở cơ quan và các cơ sở trực thuộc Cục, mà trọng tâm là việc thực hiện sự tôn trọng nghiệp vụ của nhau, xây dựng sự đoàn kết nhất trí trong đơn vị, trong Đảng. Ông cũng dành nhiều thời gian, công sức để chăm lo công tác Đảng, công tác chính trị cho Viện quân y 108. Theo chỉ đạo của ông, Đảng ủy Viện quân y 108 đã tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục quan điểm phục vụ thương bệnh binh, giáo dục tinh thần phục vụ vô điều kiện cho toàn thể cán bộ, nhân viên, coi đó là động lực cơ bản, là khâu then chốt để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng mọi hoạt động của bệnh viện. Từ kết quả đạt được trong công tác đảng, công tác chính trị tư tưởng của Viện quân y 108, ông đã chỉ đạo nhân rộng ra các cơ sở của Cục Quân y và trong Ngành.

Trong suốt những năm là chính ủy Cục Quân y, ông có nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ, nhưng có hai sự kiện mà ông nhớ nhất. Đó là việc chủ trì một cuộc họp của Thường vụ Đảng ủy và việc bị một vị chủ nhiệm khoa ở Viện quân y 108 chất vấn. Một ngày đầu xuân năm 1959, ông chủ trì một cuộc họp Thường vụ Đảng ủy Cục Quân y để thông qua phương hướng kết hợp Đông y với Tây y trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho bộ đội. Trước đó, ông đã thống nhất chủ trương, quan điểm với Cục trưởng Vũ Văn Cẩn. Khi thông qua chủ trương, thì một đồng chí cục phó đứng dậy chất vấn ông vì sao lại phải kết hợp với Đông y. Theo nhận thức của vị cục phó này thì Đông y tuy đã có từ nhiều thế kỷ trước, nhưng không có y lý và cơ sở khoa học vững chắc như Tây y, nên không nên ứng dụng vào công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho bộ đội. Ông bình tĩnh trả lời: “ Vậy theo đồng chí cục phó thì Đông y có chữa khỏi bệnh không? Vị cục phó trả lời là có. Ông đưa mắt nhìn các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy, thấy tất cả đều yên lặng. Thấy vậy ông nói luôn: Vậy đúng là Đông y đã chữa khỏi bệnh, thì tại sao chúng ta không kết hợp Đông y với Tây y trong phòng bệnh và chữa bệnh cho bộ đội. Ngay sau đó, Thường vụ Đảng ủy đã biểu quyết thông qua. Một lần khác, trong khi đi kiểm tra Viện quân y 108, ông bị một vị chủ nhiệm khoa ngoại chất vấn tại sao chi bộ lại quyết định việc mổ xẻ của khoa. Ông ôn tồn giải thích cho vị chủ nhiệm khoa “…Đảng cử đồng chí đi học kỹ thuật ở Liên Xô để làm chủ nhiệm khoa; mọi vấn đề về khoa học kỹ thuật thì đồng chí phải chịu trách nhiệm; còn chi bộ lãnh đạo để thực hiện việc điều trị toàn diện, nhất là việc động viên bệnh nhân an tâm điều trị thì càng tốt chứ sao?. Nghe ông nói xong, vị chủ nhiệm khoa không nói gì, chỉ mỉm cười và bắt tay ông.

Năm 1965, thiếu tướng Đoàn Quang Thìn được bổ nhiệm chức vụ là Viện trưởng Viên Kiểm sát quân sự trung ương và liên tục công tác tại Viện cho đến khi được nghỉ hưu.

Về nghỉ hưu nhưng thiếu tướng Đoàn Quang Thìn không nghỉ ngơi. Theo lời khuyên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông dành nhiều thời gian và tâm huyết để viết hồi ký, ghi lại những sự kiện, những con người, những năm tháng hoạt động bí mật, những giai đoạn lịch sử của quân đội và của đất nước; những chuyện buồn vui trong công việc. Cho đến nay, ông đã viết được 12 tập hồi ký. Một trong những chủ đề lớn trong 12 cuốn sách này là ông viết về những lần được gặp Bác Hồ, những việc ông đã làm theo lời dạy của Bác; những năm tháng bị tù đầy ở nhà lao Thừa Phủ, bị quản thúc ở Quảng Yên; những năm tháng ông chỉ huy các trung đoàn chiến đấu ở khu vực Đông bắc của Tổ quốc vv… Việc làm của ông thật đáng trân trọng và có ý nghĩa, đã giúp nhiều địa phương, nhiều đơn vị, cơ quan có tư liệu thực tế và chân thật để viết lịch sử, truyền thống, có ý nghĩa giáo dục cho lớp thanh niên ngày nay hiểu được lịch sử vinh quang của Đảng, của quân đội và những hy sinh, gian khổ của các thế hệ cha anh đã quên mình vì sự tồn vong của dân tộc.

Trong hơn 70 năm hoạt động cách mạng, Thiếu tướng Đoàn Quang Thìn có nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ, nhưng sâu sắc và có ý nghĩa nhất là 3 lần được Bác Hồ mời lên Phủ Chủ tịch để làm việc với Bác.  

Lần thứ nhất khi ông là chính trị viên trung đoàn 98. Lý do được gặp Bác là vì Nguyễn Sơn – nguyên chỉ huy trưởng toán biệt kích của quốc dân Đảng nhảy dù xuống đồn điền Cổ Vịt thuộc Ninh Tràng Đông Triều, để liên lạc với một toán phỉ và quốc dân Đảng nhằm chống Việt Minh. Sơn bị bắt và sau đó được giao chức vụ trung đoàn phó trung đoàn 98 để liên lạc với quân Đồng Minh. Nhưng Nguyễn Sơn đã ngầm liên hệ với bọn phản động, tổ chức lôi kéo một số phần tử bất mãn biểu tình và phối hợp với bọn phản động hòng tấn công trung đoàn 98. Sự việc bị vỡ lở, Bác Hồ đã gọi chính trị viên Đoàn Quang Thìn về Bắc Bộ phủ để làm rõ vụ việc. Trong hơn 1 tuần được ở gần Bác, ông đã được Bác giảng giải cho nhiều vấn đề về nhận thức tư tưởng, chính trị, quân sự, trách nhiệm của người chính trị viên đối với bộ đội và với đơn vị, đồng thời còn được Bác giải thích về chính sách đại đoàn kết các dân tộc của Đảng. Ông học được ở Bác về cách dùng người và cách ứng xử với kẻ đã phản bội cách mạng.

Lần thứ hai khi ông đang chỉ huy chiến đấu ở khu Đông Bắc. Lúc đó Bác vừa từ Paris về nước sau khi ký Tạm ước với Chính phủ Pháp, liền mời ông lên báo cáo để Bác biết tình hình chiến trường khu Đông Bắc. Trong những ngày được làm việc với Bác, ông đã được Bác giáo huấn nhiều vấn đề có liên quan đến bản lĩnh của người chỉ huy đơn vị. Bác còn tặng ông 4 cuốn sách, trong đó có cuốn “ Người chính trị viên” do Bác tự viết.

Lần thứ ba khi ông là Cục trưởng Cục Cán bộ, được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ xây dựng Kế hoạch xây dựng quân đội cách mạng từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. Ông được Bác căn dặn nhiều vấn đề cốt lõi trong công tác cán bộ, công tác tổ chức và chính sách đối với cán bộ.

Một ấn tượng sâu sắc nhất đối với Bác mà cho đến nay, khi đã 98 tuổi nhưng ông vẫn nhớ từng chi tiết. Đó là lúc 12 giờ ngày 15/5/1969, ông nhận được điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu đến ngay hội trường Phủ Thủ tướng để Bác gặp. Khi tới nơi, ông thấy có khoảng 20 cán bộ cao cấp của quân đội cùng với các đồng chí trong Bộ Chính trị đã ngồi sẵn ở hàng ghế đầu. Tìm hiểu kỹ ông biết Bác đang bị yếu mệt do bệnh lý đang diễn biến theo chiều hướng xấu, nhưng Bác muốn gặp mặt các cán bộ cao cấp của quân đội. Bằng giọng nói yếu ớt, Bác căn dặn các cán bộ quân đội nhiều vấn đề, nhưng ông nhớ như in mấy lời căn dặn cuối cùng của Bác “ …Sau khi dành được độc lập trong cả nước, các chú phải đề cao cảnh giác, vì có nước quanh ta còn âm mưu xâm chiếm nước ta…. Bác không sợ kẻ thù dù lớn mạnh đến đâu, mà Bác sợ nhất là các chú không đoàn kết….. Mọi việc đều vì dân và nếu biết dựa vào dân thì việc gì cũng hoàn thành…” .

Với những công lao to lớn đã cống hiến cho quân đội, cho Tổ quốc, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương và danh hiệu cao quý, trong đó có Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ, vì đã có nhiều đóng góp trong công trình nghiên cứu khoa học Bảo đảm quân y QĐNDVN trong chiến tranh cứu nước và giữ nước năm 2000 và Huy chương Bảo vệ pháp chế do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tặng năm 1996.

Trưởng thành từ quê hương Yên Trì, một vùng quê nằm bên bờ Bạch Đằng giang– nơi đã ghi dấu ấn oai hùng trong lịch sử chống nạn ngoại xâm từ phương Bắc của các bậc tiền nhân; nơi chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Yên Hưng được thành lập; là địa danh lịch sử được vua Tự Đức thứ 18 tặng 4 chữ vàng “Yên Trì nghĩa dân”, ông – Thiếu tướng Đoàn Quang Thìn – vị chính ủy thứ hai của Cục Quân y đã cống hiến tuổi xuân và cả cuộc đời cho cách mạng. Từ một học sinh lớp đệ nhị được người thầy giáo cộng sản dạy bảo và khơi dậy lòng yêu nước, ông đã sớm tham gia các hoạt động của giai cấp công nhân. Vốn liếng để ông bước chân vào con đường hoạt động cách mạng chỉ là người thợ may lành nghề, cùng với tấm lòng yêu nước và căm thù chế độ thực dân. Từ những năm đầu tiên, ông đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ để thành lập cơ sở cách mạng ở Đông Triều, giải phóng tỉnh Quảng Yên, chỉ huy các trung đoàn 98, 64, 45 chiến đấu giải phóng các huyện vùng sâu, vũng xa ở khu Đông Bắc của Tổ quốc, phụ trách ban chính trị chiến khu Đông Triều, Quân khu 3, trường Lục quân, rồi cục trưởng Cục Cán bộ, làm chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh và Cục Quân y, viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự Bộ Quốc phòng. Ở đơn vị nào, ở cương vị công tác nào ông cũng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong những điều kiện còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, về nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tính đến thời điểm này, ông là một trong số ít cán bộ, đảng viên thuộc thế hệ lão thành được chứng kiến sự trưởng thành suốt 85 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cũng là số rất ít công dân được chứng kiến nhiều sự thăng trầm của đất nước, của dân tộc, hiểu thấu được nỗi tủi nhục, lầm than của kiếp người sống dưới ách kìm kẹp, bóc lột của chế độ thực dân xâm lược. Ông cũng là những người được chứng kiến sự khó khăn, gian khổ, hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ trong những năm Đảng ta mới ra đời, phải hoạt động bí mật, chứng kiến sự lãnh đạo tài tình của Đảng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chứng kiến tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam qua những thăng trầm của lịch sử. Và với trí tuệ vẫn còn mẫn tiệp, ông sẽ còn được tiếp tục chứng kiến sự đổi thay lớn lao hơn nữa của đất nước ta.

Bài học sâu sắc và có giá trị thực tiễn rất cao mà ông tự đúc rút được trong cuộc đời, rút ra từ thực tiễn cuộc sống, từ quá trình phục vụ cách mạng và 70 năm làm người lính Cụ Hồ “… Những cái gì tôi có, tôi làm được cho đến nay đều là do Đảng chỉ dẫn và do Bác Hồ giáo dục, dạy dỗ…”. Bài học quý giá của Thiếu tướng – nguyên chính ủy Cục Quân y vẫn còn nguyên giá trị đối với thế hệ cán bộ quân y hôm nay và mãi mãi còn giá trị đối với thế hệ cán bộ quân y mai sau.

Viết theo hồi ký của Thiếu tướng Đoàn Quang Thìn – nguyên Chính ủy Cục quân y




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa