Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Đội phẫu thuật cứu chữa chuyên khoa cơ động đường không của Quân y Pháp tham gia cứu trợ nhân đạo cho các nạn nhân trong cuộc nội chiến ở Si-ri.


 Đội phẫu thuật cứu chữa chuyên khoa

cơ động đường không của Quân y Pháp

tham gia cứu trợ nhân đạo

cho các nạn nhân trong cuộc nội chiến ở Si-ri. 

 

(Một mô hình tiên tiến

mà Quân y Việt Nam cần nghiên cứu học tập) 

Người sưu tầm: GSTS Nguyễn Duy Tuân 

     Cuộc nội chiến ở Si-ri giữa các lực lượng Chính phủ và lực lượng chống đối diễn ra từ ngày 15 tháng 8 năm 2011 và tới ngày hôm nay chưa thấy có hồi kết. Hậu quả của cuộc xung đột này là sự di tản của đông đảo dân chúng sang các nước láng giềng. Ở nước láng giềng Gioóc-đa-ni, một trại tị nạn đã được lập nên tại Za’Atari, dưới sự bảo trợ của Cao ủy Liên hiệp quốc về người tị nạn. Tổng cục quân y Pháp đã đưa tới đây đội phẫu thuật cơ động đường không số 6 nhằm cứu chữa ngoại khoa đầu tiên cho những người tị nạn Si-ri. Đội đã hoạt động từ tháng 1 tới tháng 3 năm 2013 tại trại tị nạn này, một trại thu dung khoảng 80.000 người tị nạn, và gần như mỗi đêm lại có thêm khoảng 1.000 người mới tới.

1.Tổ chức đội phẫu thuật.

     Đội phẫu thuật số 6 hoạt động ở Gioóc-đa-ni được biên chế 15 người, gồm: 1 bác sĩ gây mê, 1 phẫu thuật viên chấn thương-chỉnh hình, 1 phẫu thuật viên ngoại chung, 2 y tá gây mê, 1 y tá chống sốc, 3 nữ y tá, 4 cứu thương, 1 điều hành máy X quang và 1 sĩ quan hành chính. Thành viên của đội phẫu thuật số 6 chủ yếu thuộc các bệnh viện huấn luyện lớn của Tổng cục quân y Pháp như Bệnh viên huấn luyện Percy, Bệnh viện huấn luyện Sainte-Anne, đã có kinh nghiệm về ngoại khoa chiến tranh.

     Trang bị có 5 lều, gồm: 1 lều chống sốc, 1 lều cho khối phẫu thuật, 2 lều điều trị (có 14 giường và 1 giường hồi sức), 1 lều phân loại được dùng khi có đông người bị thương tới. Thuốc men và dụng cụ được đóng gói sẵn theo cơ số. Do trang bị của đội phẫu thuật được xây dựng để dùng cho người lớn, nên đội đã được bổ sung một cơ số về nhi nhằm đáp ứng nhu cầu cứu chữa cho trẻ em. Trong trang bị có máy chụp X quang, máy siêu âm và một máy Doppler nhỏ, được đặt trong lều chống sốc.

2. Hoạt động và kết quả.

     Phần lớn những người bị thương khi chuyển tới đội phẫu thuật đã được cấp cứu sơ bộ ngoài mặt trận, như: băng, ga-rô, thuốc giảm đau. Sau đó, họ được tập trung tới bệnh viện Al Ramtha ở biên giới Gioóc-đa-ni với Si-ri. Từ đó, họ được phân loại và chuyển tới các bệnh viện của Gioóc-đa-ni.

     Tại đội phẫu thuật cơ động đường không số 6, sau khi chữa sốc, người bị thương được mổ ngay trong ngày hoặc ngày hôm sau, tùy theo mức độ khẩn. Khả năng cứu chữa của đội phẫu thuật đáp ứng được những yêu cầu của ngoại khoa chiến tranh như tổn thương nội tạng, mạch máu và chỉnh hình. Trường hợp cần truyền máu thì do JHAS (Tổ chức y tế lưu động của Gioóc-đa-ni) hỗ trợ. Sau khi cứu chữa ngoại khoa, người bị thương được chuyển tới các Bệnh viên dân sự của Gioóc-đa-ni.

     Kết quả: từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2013, đội phẫu thuật cơ động đường không số 6 đã xử trí 95 người bị thương, có 85% là người lớn tuổi, tuổi trung bình 27. Tất cả những người bị thương đều là người Si-ri, dân thường hoặc thành viên của “quân đội Si-ri tự do”. Tất cả đều đã được sơ cứu trước khi tới đội phẫu thuật: cho thuốc giảm đau, băng, cố định… Thời gian tới đội phẫu thuật rất khác nhau, nhưng không bao giờ trước 8 giờ tính từ lúc bị thương.

     Đã có 105 trường hợp được can thiệp ngoại khoa: 33 ca cố định ngoài, 6 ca can thiệp bụng, 8 ca can thiệp tổn thương thần kinh, 6 ca dùng mảnh che đậy gãy xương hở, 4 can thiệp tổn thương động mạch, 2 đặt cầu nối tĩnh mạch hiển, 1 cắt cụt… Có 3 trường hợp đáng lưu ý:

- 1 trường hợp xử trí nhanh nhiều vết thương bụng và chảy máu sau gan. Bệnh nhân sau đó được chuyển đến khoa hồi sức của một bệnh viện dân sự ở Gioóc-đa-ni. Bệnh nhân hy sinh ở ngày thứ 3.

- Đã đặt 2 shunts động mạch, 1 cho động mạch kheo trong trường hợp chảy máu ồ ạt và 1 do tổn thương động mạch đùi chung kết hợp với sốc do chảy máu. Cả 2 nạn nhân đã được mổ sau khi đặt cầu nối bằng tĩnh mạch hiển.

     Phần lớn các phẫu thuật được thực hiện bằng gây mê toàn thân (49%) hoặc gây tê tủy xương (14%).

     Những biến chứng sau phẫu thuật gồm có: 1 viêm tĩnh mạch chi dưới, 1 viêm phổi, 1 bí đái, 1 hoại tử miếng ghép bằng da mỏng và 2 nhiễm trùng sớm vùng mổ.

     Dưới đây trình bày một số đặc điểm người bị thương và tổn thương:

- Tuổi đời: - dưới 18       5%

                  - 18-50        83%

                  - trên 50      12%

- Cơ chế:   - tổn thương xuyên   95%

                  - nguyên nhân khác    5%

- Đặc điểm tổn thương:

              - chi                  66 (69%)

              - phần mềm      33 (34%)

              - thần kinh        16 (16,8%)

              - mạch máu       13 (13,6%)

              - vùng bụng         8 (8,4%)

              - vùng ngực         8 (8,4%)

     Có 16 nạn nhân không cần xử trí về ngoại khoa: những người bị tổn thương vùng ngực và một số đã được cứu chữa ở Si-ri. Có 6 tổn thương chảy máu trong phổi đã được dẫn lưu ngay sau khi kiểm tra bằng X quang, do tuyến trước dẫn lưu không tốt hoặc do chảy máu nghiêm trọng trong phổi.

     Tổng hợp chung đã xử trí như sau:

- Về phẫu thuật chỉnh hình:                     62

      Cố định ngoài         33

      Mảnh che phủ           6

      …

- Về phẫu thuật mạch máu                         8

      Khâu mạch máu trực tiếp    4

      Cầu nối tĩnh mạch               2

      Shunt động mạch                 2

-Về phẫu thuật nội tạng                               6

- Về phẫu thuật thần kinh                          16

      Thăm dò                              8

      Khâu nối thần kinh              8

- Gây tê mê

      Gây mê toàn thân                                                                  46 (57%)

      Gây mê toàn thân kết hợp với phong bế thần kinh ngoại vi   6   (8%)     

      Gây tê tủy xương                                                                   11 (14%)

      Gây tê tủy xương kết hợp với phong bế thần kinh ngoại vi    7   (9%)

      Phong bế thần kinh ngoại vi                                                    9 (12%)

-Dữ liệu sau phẫu thuật

      Thời gian nằm điều trị tại Đội phẫu thuật 3,71 ngày (1-22)

     Sau khi qua đội phẫu thuật số 6, 43% nạn nhân được chuyển về các bệnh viện của Gioóc-đa-ni để được tiếp tục chăm sóc. Một số nạn nhân khác được trở về với gia đình ở ngay trong khu vực trại tị nạn; số này được đội phẫu thuật tiếp tục chăm sóc hàng ngày cho tới khi lành vết thương.

     Những biến chứng sau phẫu thuật gồm có: 1 viêm tĩnh mạch chi dưới, 1 viêm phổi, 1 bí đái, 1 hoại tử miếng ghép da và 2 nhiễm trùng sớm vùng mổ.

3. Một số nhận xét.

- Đội phẫu thuật cơ động đường không số 6 của Tổng cục quân y Pháp là một tổ chức có biên chế gọn (15 người) với các trang bị được đóng gói sẵn theo cơ số và 5 lều để triển khai dã ngoại. Tổ chức như trên giúp cho Đội có tính cơ động cao, đáp ứng yêu cầu vận chuyển được không và có thể triển khai nhanh chóng tại thực địa.

- Thành viên của Đội là những cán bộ y tế chuyên sâu, được huy động chủ yếu từ các Bệnh viện huấn luyện của Tổng cục quân y Pháp, những cán bộ nhân viên thường xuyên được tiếp xúc với những kỹ thuật y học hiện đại và chuyên sâu, do đó khi tới chiến trường có thể bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ ngay, không bị lúng túng bỡ ngỡ.

- Nhìn vào những kết quả xử trí về ngoại khoa, có thể thấy Đội không những chỉ thực hiện cứu chữa cơ bản theo yêu cầu của vết thương, mà trong một số lĩnh vực còn đi vào chuyên khoa sâu, giúp cho việc  cứu sống tính mạng người bị thương, như việc đặt cầu tĩnh mạch hoặc làm shunt động mạch cho những tổn thương ở động mạch đùi và động mạch kheo.

Dựa theo bài viết:

« Prise en charge chirurgicale des victimes de la guerre en Syrie. Expérience de la 6e ACA, déployée dans la camp de réfugiés de Za’Atari (Jordanie) »

« Hoạt động cứu chữa ngoại khoa cho các nạn nhân chiến tranh ở Si-ri. Kinh nghiệm của Đội phẫu thuật cơ động đường không số 6, triển khai trong trại tị nạn Za’Atari ở Joóc-đa-ni »

của E. Hornez và cộng sự. Bài viết đăng trên Tạp chí Médecine et Armées, số 4-2014.


 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa