Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

ĐỘI PHẪU THUẬT TIỀN PHƯƠNG /FORWARD SURGICAL TEAM ( The FST )


 ĐỘI PHẪU THUẬT TIỀN PHƯƠNG

/FORWARD SURGICAL TEAM ( The FST )

Nguồn  :

Report “  The Forward Surgical Team: The Army's Ultimate Lifesaving Force."-

“Đội Phẫu thuật Tiền phương : Lực lượng Cứu sinh tối ưu của quân đội”

Trung tá Harry K.Stinger và Robert H.Rush thực hiện báo cáo

Người dịch : Phạm Ngọc Đính – Phạm Văn Hựu

StingerRush

Trung tá Colonels Harry K. Stinger (phải) và Robert H. Rush (trái)

FST được phát triển vào những năm 1990 khi nhận thấy rõ ràng  các lực lượng quân đội chỉ hoạt động trong khuôn khổ thấp hơn cấp sư đoàn, thường diễn ra trong hoàn cảnh chiến tranh không quy ước, nhưng vẫn  cần đựơc bảo đảm bởi một  khả năng  phẫu thuật gọn nhẹ có hiệu quả. Về cơ bản, các FST là đơn vị kỹ thuật quân y bảo đảm cho việc chỉ huy tác chiến được linh hoạt. Cần nhấn mạnh yếu tố "linh hoạt", vì chiến tranh hiện đại  phát triển rất nhanh, thường  không có chiến tuyến rõ ràng.

FST là tổ chức tương đối mới và đang còn phát triển. Cuộc chiến lần thứ nhất tại Irak là nơia chứng kiến sự xuất hiện đầu tiên việc triển khai tổ chức này và cũng là việc thử nghiệm lần đầu cho việc triển khai những hệ thống bảo đảm. Trong chiến dịch “ Bão táp sa mạc “ các lực lượng quân đội  đã nhanh chóng học hỏi từ việc áp dụng  những hệ thống quân y được điều hành nhanh chóng. Chiến trường sẽ sớm trở thành vô nghĩa và trống rỗng  với những chiến đấu viên di rất nhanh từ nơi này sang nơi khác mà không có một khả năng phẫu thuật y học nào có thể cơ động theo cùng bảo đảm.

 

Cuộc chiến tại Afganistan, tiếp theo là tại Irak, là những nơi thử nghiệm đầu tiên thưc sự cho việc sử dung FST. Chuyển thương đường không đã là một phát triển to lớn  của y học trên chiến trừơng Triều Tiên và Việt Nam. FST cũng là bước phát triển to lớn như vậy.

DRASHTents

Lều tiến chế  DRASH (1)

Ba lều DRASH của FST 250. Lều đỉnh trên bên phải là lều ATLS / pre-op- Tiền phẫu (2) ; hai bên trái là phòng điều hành và lều hậu phẫu SICU  / post-op. (3)

 

 TSF được triển khai nhanh chóng. Nó có thể phục vụ  một cuộc phẫu thuật ban đầu ngay lập tức. Ý tưởng này cho phép thực hiện một cuộc phẫu thuật cứu chữa ngay tức thòi cho một chiến binh bị trọng thương .

.

OperatingRoom

Bên trong phòng điều hành FST 250 có  thiết bị sẵn sàng đón nhận thương binh.

FST có thể tiếp cận một trận chiến đấu, dừng lại làm việc một thời gian cần thiêt, thực hiện một số ca phẫu thuật nào đấy và nhanh chóng chuyển đến một vị trí tiếp theo. FST có biên chê 20 người , triển khai hai bàn mổ, có thể thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật đã được xác định. Mục tiêu là mỗi lữ đoàn được biên chế một FST. FST cũng dễ hòa nhập trong một cộng đồng tổ chức y tế. Điều đó có nghĩa là FST có thể phân chia thành nhiều bộ phận và có thể điều đến hoạt động tại nhiều nơi. Đã từng có những nhóm 5 người, 10 người trong cùng một FST được điều đến gần nơi tác chiến, trong khi đó bộ phận còn lại của FST vẫn làm việc tại vị trí cũ hoặc sẵn sàng di chuyển nếu cần thiết.

TSF có thể nhanh chóng triẻn khai. Nó sẵn sàng phục vụ một cuộc phẫu thuật kỳ đầu ngay lập tức. Ý tưởng này cho phép thực hành cứu chữa một chiến binh trọng thương. Đó là một cuộc phẫu thuật thông thường. FST có đủ phương tiện và lực lượng cần thiết thực hiện việc bảo đảm an toàn. FST có thể triển khai thành một công trình tại chỗ trong các lều tiền chế hoặc đơn giản là triển khai làm việc lộ thiên. Câu nói cổ xưa “ Tất cả mọi người đều là bộ binh “ thật đúng trong hoàn cảnh này. Các thành viên của FST cần và có thể biết cách chiến đấu để tồn tại và đôi khi họ cũng cần phải biết cách trở thành chiến binh nhảy dù.

          Tóm lại , một FST có 10 sỹ quan và 10 nhân viên y tế khác.  Tất cả các bác sỹ đều là phẫu thuật viên, thường là  bốn phẫu thuật viên – ba bác sỹ ngoại khoa chung và một bác sỹ chuyên khoa chỉnh hình  đã qua đào tạo chấn thương. FST còn có hai nữ y tá gây mê, ba  nữ y tá ( một tại phòng cấp cứu, một tại phòng mổ và một tại phồng hồi sức tăng cường (ICU-Intensif Care Unit), một sỹ quan điều hành có các nhân viên khai thác thiết bị giúp việc, các phụ y tá nũ và các thầy thuốc quân y. Nhiệm vụ của họ là điều hành và thực hiện các công việc hậu phẫu đầu tiên cho 30 thương binh liên tục trong 72 giờ, thời gian tới hạn cho mọi cố gắng phục vụ và cũng là lúc FST bắt đầu thiếu các nhu cầu bảo đảm y khoa và sinh hoạt. Lúc này các chiến sỹ quân y phải cố gắng chống chọi ngay cả khi đã quá mệt mỏi. Tuy nhiên điều này rất nguy hiểm cho các nhân viên quân y nếu ai đã thấy họ phải làm việc vất vả, khó nhọc như thế nào.

Thực tiễn tại Afganistan , đặc biệt trong những giai đoạn đầu, các FST đã phải đối mặt với các yêu cầu to lớn để có thể hoạt động bình thường. Việc này sẽ thuận lợi hơn nếu FST triển khai gần kề các tổ chức quân y cung cấp các thiết bị và vật tư cần thiết. Khi không có điều kiện và hoàn cảnh này , FST thường thiếu các thiết bị khử trùng , máy phát điện, thiết bị sưởi ấm và lều bạt cần thiết.

 Đã có một trường hợp xảy ra khi FST 759 đã gặp rắc rối với thiết bị X tuyến . Đó là một vấn đề thường thấy và là một trong những vấn đề lớn nhất của những kinh nghiệm ban đầu. Đã thấy sự cố này khí X tuyến không hoạt động ngay trong đồng bộ các thiết bị cho FST. Người ta cho rằng  công ty cung cấp thiết bị y tế đã dự kiến điều này. Sự cố tương tự này cùng từng xảy ra khi sử dung thiết bị quạt thông gió tự động.

FST thường quan niệm thiết bị y tế thuộc sở hữu của riêng của mình, hầu như không có ranh giới rõ ràng với công việc điều hành và kiểm soát. Ngay từ ban đầu, cũng đã dành không  đủ thời gian đào tạo nhân viên các đơn vị cơ động để mọi người hiểu nhau, và hiểu cách điều hành công việc của các thiết bị.

Stinger et Rush nhân mạnh :

“Để thật sự gọn nhẹ, dễ triển khai và sử dụng, TSF chỉ nên có số nhân viên và thiết bị cần thiết cho việc thực hiện 30 ca phẫu thuật khẩn cấp cứu mạng , hoạt động trong 72 giờ phục vụ cho một cuốc tiến công trong khu vực bảo đảm của lữ đoàn yểm trợ ( BSA / Brigade Soutien Act). Các cuộc phẫu thuật  thường tiêu thụ đáng kể một lượng  vật tư, thiết bị kỹ thuật và  vắt kiệt sức người . Sau 72 giờ ban đầu thực hành liên tiếp các cuộc phẫu thuật, TSF thực tế không còn khả năng tiếp tục làm nhiệm vụ vì sức người đã cạn kiệt , nhân lực và trang thiết bị phải được kết cấu tổ chức lại để phục vụ cho hoạt động tiếp theo của BSA, hoặc trong trường hợp có thể phải tiếp nhận một lượng lớn thương binh tiếp theo.

Cần nhán mạnh rằng các phẫu thuật viên phải có một năng lực cần thiết và không thể để lãng phí khả năng này , và cần phải đặt đúng chỗ khi sử dung đúng mức khả năng này . Mặt khác những nhân viên bảo đảm kỹ thuật là rất cần thiết cho việc tiếp nhận thương binh bệnh binh nhưng có thể chuyển thương binh, bệnh binh sau 6 – 8 giờ được xử trí, săn sóc cần thiết và không phải bao giờ các nhân viên này cũng phải trực tiếp săn sóc thương binh.

Áp lực công việc còn đến với các FST khi sử dụng tổ chức này vào các công việc khẩn trương khác như trong việc săn sóc cứu chữa bệnh tật hoặc thương tich cho cư dân vùng chiến sự. Và những trường hợp như thế thường xảy ra rất bất ngờ.

Chúng tôi đã xem một só bản viết tay về chăm sóc y tế loại này cùng với những chăm sóc hậu phẫu . Một số nguyên nhân của tình hình này là không thể chuyển người bị thương, bị bệnh về tuyến sau do trở ngại thời tiết bất lợi đăc biệt là tại vung rừng núi, điều kiện tại chỗ rất khó khăn cho chuyển thương bằng trực thăng. Cũng từng biệt xảy ra sự cạnh tranh chuyển thuong , đặc biệt khi các FST đều gần kề khu vực tác chiến. Trực thăng thường được sử dung nhiều hơn khi thu gom thương binh từ điểm tác chiến chuyển về các FST hơn la di chuyển họ ra khỏi FST. Cũng xảy ra một số vấn đề khi sử dụng trực thăng hộ vệ chuyển thương thường được dành hộ tống cho trực thăng chuyển thương rời khỏi khu vực tác chiến của lữ đòan. Một trong những kết quả không mong đợi này đã khiến người bị thương, bị bệnh phại lưu lại FST quá 72 giờ. Trong những trường hợp này FST phải đối mặt giải quyết lương thực cho thương binh hậu chấn thương , những vấn đề kỹ thuật cao hơn tiếp theo cần phải giải quyết.

Ngoài         ra khi tình hình tác chiến biến động, FST  thường phải chia nhỏ đội hình và di chuyển thường xuyên. Điều này đòi hỏi mất nhiều thời gian và năng lượng và có thể rất nguy hiểm. Điều này đã  xảy ra với  FST 247 trong báo cáo do  George E. peuples, Tad Gerlinger, Robert Craig, et Brian Brlingame,  thực hiên  “ Kinh nghiệm  của  phẫu thuậ tiền phương trong chiến  dịch Tự Do Bền Vững tháng Sáu 2005 “.

Tất cả những điều đó đang phát triển mạnh mẽ với nhiều công việc phải điều hành. Hệ thống quân y triển khai trong các cuộc chiến tại Irak và Afganistan  rất to lớn, có chất lượng tốt gấp nhiều lần nếu so với các cuộc chiến tranh trước đó mà quân đội Mỹ đã tham gia. Đơn giản là cần phải làm tốt hơn nữa. Trong suốt chiều dài cũa sự phát triển này là, có thể khẳng định rằng : chính con người đã làm cho nó vận hành hoàn hảo.

 

MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG CỦA FST


DRASHTents

 

Tại Đội phẫu thuật tiền phương 947 FST, Bagram AFB, Afghanistan. Một trợ thủ lấy dụng cụ phẫu thuật cho các bác sĩ trong một ca phẫu thuật ruột thừa cho chiến sỹ Nhân viên Sgt. Jeremy T. Lock, Không quân Hoa Kỳ

FSTc

  Ensign Kelly Bowman (bên phải) cho biết, "Chúng tôi đã làm phẫu thuật và kéo một mảnh bốn-inch của kim loại ra khỏi chân thương binh.Đã truyền máu ,sau đó được chuyển thuong và đã cưu sống thương binh.  

FSTe

Đơn vị 250 FST (Dù), "Blacksheep." Phục vụ tại Iraq. đã nhanh chóng triển khai, mọi người đều có khả năng chiến đấu. Họ đã nhảy dù ra khỏi máy bay 

FSTj

Lính dù FST 250: Đây là những người nhảy ra khỏi máy bay hoàn hảo, họ tiếp đất tại vào miền bắc Iraq để mở mặt trân  phía trước phía Bắc.

 

  Có thể nhớ lại Thổ Nhĩ Kỳ từ chối không cho các sư đoàn bộ binh thứ 4  xâm nhập bằng đường bộ, rất nhiều người trong lực lượng can thiệp76 đã phải thâm nhập   chiến trường bằng dù. Những chàng trai này đi với Lữ Đoàn 173. Đứng từ trái sang phải: Brad West, Crna; William Goldsworth, OR công nghệ cao; Robert Novak, LPN; Abel Tavares, OR công nghệ cao; Robert Burns, chấn thương medic; Luke Fullerton, chấn thương medic; Tiến sĩ Stinger; và Tiến sĩ Devine. Front: Glen Carlsson, CEN, y tá chấn thương. Trong nền là  Máy bay  C- 17 chờ hoạt động

FSTf

1 FST đang triển khai (trái sang phải) đại úy  John H. Mulreaney và thiếu1 úy Jeffrey L. Allen. Họ dừng lại lai đây để hỗ trô đơn vị 67. trên đường đến vị trí cuối cùng của họ ở miền bắc Iraq.  FST số 1 được cử đến Iraq từ Kuwait và dừng lại ở CSH 67 trong hai ngày để  đón tiếp thêm và nhận được một số học viên. Tháng Hai năm 2004.
FSTg

  FST 541, Orgun-E, Afghanistan. Các chiến sỹ cáng chạy chuyển một thương binh do đạn bắn vào chân. Các nhân viên cứu trợ trạm được tạo thành từ hai đơn vị: Tiểu đoàn 1, Bộ binh 503 (Airborne) từ Vicenza, Ý, và các đội phẫu thuật 541 Chuyển tiếp từ Fort Bragg, NC.

FSTh

DST 934  Phục vụ tại Iraq. Trung Tá Robert Borrego  thực hiện  một phẫu thuật cho một chiến sỹ đội Mỹ bị thương gần Baghdad, thánh Năm 2003.

FSTi

FST 909  Gặp gỡ Tiến sĩ đại tá JD Wasser, làm việc tại Afghanistan đang phẫu thuật cho một chiến sỹđã bị thương  mất một phần cánh tay phải của mình."Chúng ta đều biết phải làm gì, nhưng không bao giờ biết những gì mong đợi chúng ta." 

FSTk

FST 102  Phục vụ ở miền bắc Iraq.

FSTa

FST phục vụ ở miền bắc Iraq. Trung tá Michael Badellino. "Chúng tôi di chuyển ra bên phải với các đơn vị  "

 

Chú thích của người dịch

 

(1)  DRASH TMSS  viết tắt của  The Shelter Deployable Rapid  DRASH   là một hệ thống lều nhanh chóng triển khai tích hợp chỗ ở, nơi làm việc chuyên ngành,  có khả năng di động, có điện chiếu sáng, sưởi ấm, làm mát và tiết kiệm năng lượng . Tất cả được gói gọn trong một sản phẩm. Trong hơn 25 năm qua, hệ thống DRASH  đã đóng một vai trò không thể thiếu trong việc triển khai nơi ở và nơi làm việc chuyên ngành của nhân viên quân sự trên thế giới. DRASH  là một phần của tiêu chuẩn tích hợp hệ thống chỉ huy của quân đội Mỹ . và đã được thử nghiệm và chứng minh thích ứng với nhiều nhiệm vụ khác nhau trong thực hành các nhiệm vụ chiến thuật..Ngoài ra DRASH còn được dùng trong những nhiệm vụ cứu trợ khẩn cấp trước thảm họa thiên nhiên.

Thiết lập một lều DRASH

Một cơ sở bảo dưỡng DRASH ở Iraq

Bệnh viện bang Connecticut làm từ DRASH 

(2)  (ATLS/ Advanced Trama Live Support/)  Hoạt động khẩn cấp trong các các tình huống khẩn  trương  mà chỉ có một bác sĩ và một y tá có mặt, ATLS được chấp nhận rộng rãi như là tiêu chuẩn chăm sóc ,đánh giá ban đầu và điều trị tại trung tâm chấn thương . Những tiền đề của  ATLS là để điều trị các mối đe dọa lớn nhất đối với sự sống đầu tiên. Nó cũng  khẳng định việc thiếu một chẩn đoán xác định và một bệnh sử chi tiết  không làm chậm các ứng dụng điều trị chỉ định cho chấn thương đe dọa tính mạng, với các biện pháp can thiệp nhất thời trong thời gian quan trọng được thực hiện sớm nhất.

(3) SICU/post op- Soins Intensifs Care Unit/post operation- Một đơn vị chuyên sâu chăm sóc ( ICU /Intensf Unit Care), cũng là đơn vị điều trị tích cực hoặc đơn vị điều trị chuyên sâu ( ITU ) hoặc đơn vị chăm sóc đặc biệt ( CCU ), là một bộ phận đặc biệt của một bệnh viện hoặc trạm y tế cung cấp thuốc chăm sóc đặc biệt .

Các đơn vị chăm sóc đặc biệt phục vụ cho bệnh nhân với hầu hết nặng và đe dọa tính mạng bệnh tật và thương tích, trong đó yêu cầu liên tục; giám sát chặt chẽ và hỗ trợ từ các thiết bị chuyên dụng và các loại thuốc để đảm bảo chức năng cơ thể hoạt động bình thường . Đơn vị có đủ nhân viên được đào tạo bởi các bác sĩ  y tá lsa2 những người chuyên chăm sóc cho người bị bệnh ,  bị thương  nặng. Thường được điều trị trong một ICU thường là chấn thương , tổn thương nhiều cơ quan, nhiễm trùng huyết …. [ 

 

Tháng Mười Hai 2014




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa