Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Lịch sử quân y Pháp trong Chiến tranh Đông Dương


 Lịch sử quân y Pháp

trong Chiến tranh Đông Dương

Nguồn : Tài liệu từ trang Web ASAF  năm 2010

Phạm Văn Hựu dịch

*

Lời biên tập

Tài liêu này có tựa đề quá rộng, với nội dung đã thể hiện trong nguyên bản và bản dịch, nên hiểu theo một phạm vi hẹp hơn :

 Lịch sử quân y lực lượng dù quân đội Pháp trong chiến tranh Đông Dương

www.quandany.com

*

Chú thích : những chữ ngiêng có gạch chân là của người dịch

*

Ngài Jean MEZIERE, Chủ tịch hiệp hội quốc gia Các bạn của lực lượng Dù (Association  des amis du parachute ) đã ủy thác cho tôi một nhiệm vụ nặng nề là phác thảo lại lịch s  của lực lượng dù / Troupes aéroportées /TAP trong  chiến tranh Đông Dương. Để thực hiện nhiệm vụ nặng nề này , tôi đã dựa vào nhiếu tài liệu khác nhau : trước hết là các tài liệu:

-Luận án  của Marc LEMAIRE, sinh viên tại trường quân y - ESSA- Lyon bảo vệ năm 1991  “Quân y tiền phuong trong nhiệm vụ bảo đảm cho các lực lượng dù tại Đông Dương 1944-1956”.Công  trình này có 350 trang tham chiếu

-Hồi ức của MCS(H) Pierre-Henry QUANDIEU về Những y sỹ tiểu đoàn tại trận chiến Đường thuộc  địa 4 - RC4 - tên gọi dùng cho khóa đào tạo y sỹ  2002 của ESSA Lyon.

          - Cuốn sách “ Các y sỹ tại Điện Biên Phủ “ (Presse de la Cité) của Pierre ACODE , nhà báo quân y.

- Những chuyện kể lại của y sỹ đại tá Ernest HANTZ, y sỹ trưởng của đội phẫu thuật dù 5 tại Diện Biên Phủ và viên y tá gây mê hồi sức của đơn vị này,ngài René CAYRE mà tôi có may mắn gặp ngày 12 tháng Sáu 2010’

Tôi  xin cám ơn các vị đã cho phép tôi sử dụng tư liệu có liên quan đến nhân chứng của các vị.


*

1-Quân y Pháp tại Đông Dương

 

Để bảo đảm cho khoảng 200 000 người thuộc Lực lượng viễn chinh Pháp tại Viễn Đông ( Corps Éxpeditionaire francais en Extrême Orient /CEFEO). nơi cách xa chính quốc 12 000 km. Quân y Pháp đã chấp nhận phục vụ đạo quân này trong cuộc chiến không có mặt trận. Từ quân số 2 244 năm 1945 đã tăng tới  4 847 người vào nám 1952 với tất cả các biên chế cần thiết . Với tổn thất trung bình 15% mỗi năm, quân y Pháp chưa bao giờ đáp ứng đầy đủ đặc biệt là số y sỹ  trong đó có 50 người chết trận hoặc bị bắt trong 9 năm chiến tranh.

Từ 1948 đến 1954, tổn thất nhân mạng của CEFEO  là 40 928 chết trong đó có 30 832 chết trận và 21 576 người mất tích và tù binh chết sau khi bị bắt.

Quân y đã cứu chửa  72 175 thương binh với tỷ lệ người bị thương nặng nhiều gấp đôi tỷ lệ ghi nhận được trong chiến tranh 1939 – 1045.

Đối mặt với tình hình phân tán lực lượng trên một địa bàn khó khăn rộng gấp một lần rưỡi nước Pháp, quân y Pháp tại Đông Dương đã áp dụng các biện pháp cứu chữa và chuyển thương do cuộc chiến tranh kiểu mới này đặt ra. Trên thực tế số lượng ít ỏi bệnh viện trong hạ tầng cơ sở, tình hình mất an ninh trên các trục giao thông đường bộ và đường sông đã làm vỡ giây chuyền chuyển thương giữa các trạm cấp cứu tiền phương với những cơ sở điều trị hiếm hoi phía sau.

Tình hình đó đã làm cho nhiều thương binh nặng phải tử vong do không thể chuyển thương để được điều trị trong thời gian thích hợp. Chính vì vậy để giải đáp việc bảo tồn số quân chiến đấu và nâng cao tinh thần chiến đấu cho binh sỹ, quân y Pháp tại Đông Dương đã triển khai hai phương tiện mới : một mặt các đội phẫu thuật tiền phương , trong đó có đi phẫu thuật nhẩy dù  được triển khai vào năm 1947 nhằm kéo dài thời gian tiền phẫu thuật cho thương binh tại tiến phương . thực hiện các biện pháp cứu chữa cần thiết sau khi phân loại, với những trường hợp rất nặng có thể can thiệp phẩu thuật tại chỗ.

 Mât khác sử dụng máy bay trực thăng là loại  phương tiện bay không cần đường băng.  Việc này được thực hiện lần đầu vào năm 1950 và sử dụng nhiều hơn  kể từ 1952.  

Tuy nhiên những phương tiện này còn khan hiếm và đắt đỏ nên chưa được dùng rộng rãi khi đỏ. Việc cứu chữa tại hỏa tuyến là cáng thương do đồng đội , những chiến đấu viên đã kiệt sức, khiêng cáng.Do địa hinh  có nhiều khó khăn, cần tới 8 – 16 đồng đội để cáng , thay phiên nhau 4 người 1 lần.

Ruộng đồng nơi tác chiến dày đặc chông mìn, cạm bây , quân đội Việt Nam hiểu rằng  cách đánh này ít tốn kém nhất mà đạt hiệu quả cao nhất đối với tiềm lực tiến công của quân đich . cả vế quân số và tinh thần chiến đấu của đối phương

2 -Quân y của Quân Đoàn Nhẹ Can Thiệp

(Corps Léger d’Iintervention/ CLI )

 

Sau Đại Chiến II , CLI chưa thể coi là đơn vị dù thật sự, nhưng   do nhu cầu tác chiến đã phải huy động với  phần l ớn thành phần quân nhân đã trải qua huấn luyện và được cấp chứng chỉ tốt nghiệp nhảy dù.
          Được thành lập tại Algérie ngày 4 tháng Mười Một năm 1943, tiếp đó được thành  lập  và  huấn luyện tại Ấn Độ. Giữa tháng Năm 1945 , đơn vị này có 948 người trong đó có 455 sỹ quan và hạ sỹ quan do trung tá Huard  tuyển dụng “ những người tình nguyện trong tất cả các quân chủng  sang chiến đấu tại Đông Dương hoặc những người đã  trải  qua cuộc  sống  trong rừng  rậm .”

          12  y sỹ được tuyển mộ theo cùng tiêu chuẩn trên đây được đưa vào huấn luện sau đó chỉ tuyển được 15% hợp cách.

          Để  đáp ứng  việc huấn luyện y khoa và đào tào những nhân viên cấp cứu cho CLI, các y sỹ đã thụ hưởng được nhiều kinh nghiệm báu tứ  người Anh là những người đã trải  qua cuộc chiến trong rừng sâu  với những toán biệt kch  Wingate  đã được huấn luyện đặc biệt.

          Nói về tầm quan trọng của việc huấn luyện các biện pháp y học ( tiêm chủng.vệ sinh, phòng chống bệnh sốt rét và bệnh lỵ amip. cấp cứu và cứu lẫn nhau ) Huân tước Mounbatten ( nguyên tổng tư lệnh Anh tại Ấn Độ trong Đại Chiên III ) đã nói :” Các y sỹ không thể chiến thắng trong vị trí của tôi nhưng họ có thể làm tôi chết “

          Tháng Chín và tháng Mười 1945, CLI  gia nhập  vào  CEFEO dưới quyền tướng LECLERC, tham gia việc chiếm lại Sai gon thuộc Nam Kỳ, tiếp đó là Cao Miên và Lào.

          Trong c ác chiến dịch này , CLI đã tổn thất 2 trong số 12 y sỹ chết tại trận : Y sỹ thiếu tá Nouaille-Degorce  và y sỹ đại úy Villate.

          Trong các chiến dịch này , việc huấn luyện nhảy dù  duy nhất được thực hiện là đại đội C và đã nhảy xuống Thái Lan cuối tháng Chín 1945 với quân số 100 người, không y sỹ, không y tá  .

       Bốn tháng cô lập trong môi trường thù địch với nhiều người bị bệnh và bị thương, đơn vị này chỉ được tiếp tế bằng đường không và phải chờ tới tháng

Giêng 1946 mới có bác sỹ Niger từ trên không nhảy xuóng và đã cứu sống nhiều người bị thương, bị bệnh.

          Ngày 3 tháng Tư năm 1946 khi tới mũi Ca Mâu. cực nam Nam Kỳ , một Trung đoàn bộ binh thuộc địa báo có hai thương binh nặng  cần phẫu thuật khẩn  cấp. Do thiếu phương tiện cứu chữa và đường chuyển thương về Saigon không an toàn, cơ may sống sót chỉ còn nhờ Trời. Vì vậy đã cử 3 y sỹ  của CLI đã tốt nghiệp nhảy dù tại Anh được phái làm việc tại bệnh viện  415-  được thả xuống một thửa ruộng – mang theo phương tiện gây mê và phẫu thuật. Mặc dù những điều kiện thực hành phẫu thuật rất khó khăn và ngặt nghẻo, 2 thương binh đã được cứu sống trong niềm vui khôn tả của đồng đội

          Sau cuộc nhảy dù này , kíp phẫu thuật viên nhảy dù của quân y CLI đã chứng tỏ lợi ích quan trọng và hiệu quả về bảo đảm quân y cho các đơn vị bị cô lập trong vùng đối phương kiểm soát  và  bị chặn dứng đường về hậu phương của mình.

          Từ  đó với cái giá trả sinh mạng cho 2 y sỹ, CLI đã mở đường cho những phát triển sau này  của quân y tại Đông Dương : thành lập các tiểu đoàn dù có y sỹ và những đội phẫu thuật nhảy dù

         

3- Quân y tiểu đoàn dù tại Đông Dương

 

Theo điều hành của Tư lệnh quân đoàn, đơn vị cơ bản của  các đơn vị không vận ( Troupes Aéroport ées-TAP-) Đông Dương là tiểu đoàn bộ binh dù. Từ 1951, theo mệnh lệnh của tướng De Lattre, CEFEO có 9 tiểu đoàn dù được mệnh danh là những “ tiểu đoàn cứu hỏa Đông Dương “ có nhiệm vụ  rập tắt những đám cháy lớn “. Với quân số 600 – 800 người , tiểu đoàn được kết cấu từ 3-4 đại đội chiến đấu và một đại đội chỉ huy có nhiều thành phần trong đó có một trung đội quân y.

Trung đội quân y do một y sỹ trưởng phụ trách, đôi khi có người phó giúp việc gồm có một y tá trưởng , một nhóm y tá và thường thiếu. Trung đội có 4 xe dùng cho công việc phía sau.

Mặt khác , mỗi đại đội chiến đấu có một y tá đại đội ( trung sỹ hoặc thượng sỹ )  cùng các y tá, tải thương trung đội đã qua huấn luyện, họ thường xuất thân từ chiến đấu viên, có khi là cứu thương viên. Viên cố vấn quân y của quân đoàn có liên lạc thường xuyên với các y sỹ tiểu đoàn giúp việc tuyển chọn người hợp cách và chịu trách nhiệm huấn luyện họ có trình độ cứu thương sơ đẳng. Tuy nhiên so với yêu cầu bảo đảm nhiệm vụ còn nhiều yếu kém, họ được huấn luyện tốt về các biện pháp phòng chống bệnh lưu hành nhiệt đới ( sốt rét và nhất là bệnh lỵ amip. ) Chính vì thế họ được học thuộc lòng những câu dân dã có nhịp, vần như :” móng tay để tang là mang bệnh mắt “, “ruối bâu ở đâu theo sau là cái chết “, “màn đêm ập tới, không cởi áo quần “…Trong cuộc hành quân . y sỹ tiểu đoàn là người đầu tiên thực hành chức năng trong giây chuyền chuyển thương. Nhiệm vụ hàng đầu của họ là bảo đảm sinh mệnh và chức năng hoạt động cho người bị thương. Vì không có phương tiên liên lạc vô tuyến . họ triển khai công việc gần sở chỉ huy tiều đoàn để phối hợp trong nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe và đề xuất các yêu cầu cần thiết theo phát triển của tình hình tác chiến. Vị trí cấp cứu của họ cũng là vị trí chiến đấu.

 Là cố vấn quân y của tư lệnh quân đoàn có mối liên hệ và hợp tác  tin cậy, viên y sỹ quân đoàn bảo đảm việc tuyển chọn người thích hợp với nhu cấu chiến đấu , chịu trách nhiệm giáo duc vệ sinh phòng bệnh cũng như đào tạo cho họ khả năng cứu thương sơ bộ.

Sở chỉ huy cũng là trạm  cấp cứu thường là một chỗ ẩn nấp tự nhiên nào đấy với một túi cấp cứu. một hoặc hai cái cáng gấp có thể cõng trên lưng

Viên y sỹ tiểu đoàn thưc hiện các hoạt động cấp cứu cho phép chuyển thương và viết thương phiếu cho mỗi thương binh, ghim thương phiếu vào bộ áo lính chiến của thương binh .

Trong những năm đầu cuộc chiến, các nhóm chiến đấu thường bị cô lập, thường cách  xa trạm cấp cưu tiểu đoàn. Hoạt dộng dũng cảm của các cáng thương viên cà các y tá trong đơn vị là những việc làm tiên quyết cướp lấy thương binh ra khỏi  hỏa lực quân địch, tạo cơ may cho khả năng sống sót của thương binh.

Nhiệm vụ âm thầm nhưng rất quan trọng này có tác dụng rất lớn trong việc nâng đỡ tinh thần chiến đấu viên bị thương cần phải được rèn luyện ngay sau khi tuyển dụng và phải được huấn luyện,  đào tạo.Thực vậy, những hành động cấp cứu này theo sát họ trong các hoạt động chuẩn bị chiến đấu của tiểu đoàn, nó gắn liền với công việc của viên y sỹ tiểu doàn ngay lúc chiến đấu, có tầm quan trọng đặc biệt.

Gắn liền với trách nhiệm chuyên môn. sợi giây liên hệ sống còn này đã nối kết chặt chẽ giữa người y sỹ và tiểu đoàn được thể hiện rất rõ câu nói của thiếu tá Hélie de Saint Marc về hai câu hỏi mà Marc Lemaire đã nêu ra trong luận án :” Thái dộ của các y sỹ phải như thế nào khi gặp những tình huống xấu nhất cho thương  binh,  khi  thất bại  trước đối phương ?’ Câu trả lời là : “Khi phải rời bỏ thương binh, các y sỹ thường  đề nghị được ở lại với thương binh”. Việc quyết định thuộc về thượng cáp trực tiếp của người y sỹ.

Chủ nghĩa anh hùng được thể hiện trong hoàn cảnh như thế khiến ta phải  đánh giá rằng một y sỹ bao giờ cũng cần thiết, có ích cho chúng ta hơn là rơi vào tay đối phương.

Đó là tình cảnh đã từng phải đối mặt của 9 y sỹ tiểu đoàn ngày 16 tháng Chín 1950 có trách nhiệm  khi cùng  6 000  binh lính trong  binh đoàn Charton khi phải rời bỏ đồn binh Cao Bằng về Lạng Sơn trong hỏa ngục thảm bai trên đường thuộc địa số 4 và trong các lũng  núi đá Cốc Xá. .

Trong số họ có y sỹ đại úy Pédoussaut của tiểu doàn ngoại quốc số 1( 1er Bataillon étranger parachutique / 1er BEP và Amstrong của tiểu đoàn thuộc địa dù  số / 3ème Bataillon colonial parachuté,  đã quyết định ở lại trận địa đề tiếp tục cứu giúp thương binh khi đợt xung phong cuối cùng đã kết thúc : “ Tôi không tham gia vào các cuộc chiến , nhưng những chiến đấu viên bị thương là của tôi “.Bản thân  Pédoussaut cũng bị thương đã nói như vậy với thiếu tá Segrétain chỉ huy trưởng tiểu đoàn BEP số 1 trước khi bị giải về trại tù binh..

“Vậy những phẩm chất nào có thể mong  đợi ở người y sỹ đơn vị dù ?”

-“ Người y sỹ tiểu đoàn  có ba nhiệm vụ đối với đơn vị : Là y sỹ nên mọi người mong đợi ở  họ những khả năng chuyên môn. Y sỹ cũng là đồng đội của các chiến đấu viên nên sẵn sàng chia xẻ những khó khăn gian khổ với chiến đấu khi lâm trận. Cuối cùng y sỹ cũng là một sỹ quan,  cũng  có nhiệt tình vui sống, và thường có trình  độ học vấn hơn các bạn sỹ quan của các ngành nghề khác  và cũng thích vui nhộn khi trao đổi chuyện trò nhằm  giảm nhẹ trong giây lát những vất vả nhọc nhằn của cuộc đời binh nghiệp “.

Cần phải nhấn mạnh điểm này , ngoài những khả năng thực hành kỹ thuật, người y sỹ phải có một thể lực tốt, bền bỉ dẻo dai để bám sát đồng đội trong mọi tình huống chiến đấu nhiều khi khó khăn ác liệt khôn cùng  .

 

Tư liệu từ trang Web ASAF

 Association des soldats aéroportés/Hiệp hội những người lính không vận năm 2010

 

 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa