Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Mười ba năm (2001 -2014 ) hoạt động cứu trợ của quân y Pháp tại Afganistan


 Mười ba năm (2001 -2014 ) hoạt động cứu trợ

của quân y Pháp tại Afganistan

*

Lời giới thiệu của biên tập WebQDY

  

 Trong thời kỳ phát triển và hội nhập hiện nay, ngành quân y sẽ đảm nhiệm một nhiệm vụ mới mẻ :  nhiệm vụ quốc tế tại hải ngoại. Đây là một nội dung rất mới mà các thế hệ quân y trước đây chưa từng trải qua. Tài liệu này sẽ góp vào nguồn thông tin nhiều chiều mà  lãnh đạo, chỉ huy ngành quân y cùng các đồng nghiệp trẻ đáng kính  đã và đang tiếp cận , mong rằng tài liệu sẽ cung cấp một góc nhìn đa diện trong sự nghiệp xây dựng và phục vụ Quân đội Nhân Dân Việt Nam. Sau đây là toàn văn bản dịch.

 

 www.quandany.com  

 

*

Article original Médecine et Armées, 2014, 42, 3, 207-212 207

 2001-2014 : treize années d’engagements opérationnels du Service de santé des armées en Afghanistan

J.-B. Pohl, L. Sum, E. Czerniak, O. Hersan, N. Faure, E. Angot

J.-B. POHL, médecin principal./ Y sỹ chính dối hàm Thiéu tá quân y.L. SUM, médecin / Y sỹ đối hàm Đại úy quân y.E. CZERNIAK, médecin en chef/ Y sỹ trưởng đối hàm Trung tá quân yg.O. HERSAN/   médecin en chef/ Yỹ  trưởng đối hàm Trung tá quân y. N. FAURE, vétérinaire/Thú y sỹ đối hàm Đại úy quân y. E. ANGOT, médecin en chef/Y sỹ trưởng. đời hàm trung tá quân y

Correspondance :Monsieur le médecin principal J.-B. POHL, Direction centrale du

Service de santé des armées, Fort neuf de Vincennes, cours des Maréchaux – 75614

Paris Cedex 12.

E-mail:jean-baptiste.pohl@intradef.gouv.fr 

 PHẠM VĂN HỰU dịch 

Nói đến cuộc xung đột tại Afganistan, người lính Pháp thường nghĩ tói Uzbeen, tới những người đã chết, tới những cuộc chiến ác liệt của lữ đoàn Pháp trong tác chiến, đặc biệt là những cuộc chiến tại thung lũng Surobi và  Kapisa…Với những người đã cứu chữa cho họ vẫn còn vang vọng tên người bị thương, các chi tiết khi cấp cứu và tên của bệnh viện nội ngoại khoa đặt tại Kabun mang tên “HCM KaIA”/ Hôpital médico-chirurgical international aéroport de Kaboul. Trong ký ức của các binh sỹ Pháp thới gian 2001 – 2014 vẫn còn hằn sâu. Cũng dễ quên đi thời gian 2001 – 2014 là 13 năm tham gia hành quân với cường độ ngày càng tăng , một phức hợp chiến thuật phát triển mạnh mẽ, việc nối kết thường xuyên các phương tiện thường trưc cứu chữa , những giai đoạn tương đối ổn định và những giai doạn chiến đấu ác liệt. Trong chiến trường đặc biệt này đã xuất hiện những yêu cầu - với sự hỗ trợ của lực lượng liên quân,  quân y nước Pháp đã rút ra những bài học về phản mệnh lệnh và kiểm soát y khoa trong lực lượng liên quân. Đã đúc kết các bài học kinh nghiệm Afganistan , hiện đại hóa phương thức hoạt động, phát triển và đặc biệt trong lĩnh vực cấp cứu khi chiến đấu. Những kinh nghiệm đó cuối cùng cho phép hiện đại hóa các phương thức hành động cứu chữa ngay trong chiến đấu. Cuối cùng đã hình thành một quá trinh thật sự được tiêu chuẩn hóa về chuẩn bị chiến dịch, giúp cho các ngành trong quân y tham gia các cuộc chiến đấu trong chiến dịch “ Pamir “ ( 1 – xin xem chú giải cuối  bản dịch) có được điều phải biết và cách phải làm đã được tiêu chuẩn hóa về mặt quân sự và quân y. 

Mở đầu

Tiếp theo những hành động khủng bố tại New York  và Washington tháng Chín năm 2001, nước Mỹ tiến hành  chiến dịch TỰ DO VĨNH CỬU/ OPERATION ENDURING FREEDOM (OEF) ngay từ  tháng Mười tiếp theo việc phê chuẩn nhất trí Quyết nghị 1369 và 1373 của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc/ Conseil de sécurité. Tháng Mười Hai năm 2001 Lực lượng quốc tế  của Hội đồng an  ninh /Conseil de sécurité des Nations Unies/ CSNU- theo ủy nhiệm của Liên Hiệp Quốc/ LHQ - lực lượng quốc tế cứu trợ, an ninh /Force internationale  d’assistance à la sécurité (FIAS)  dưới sự chỉ huy  của Tổ chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương / Organisation du traité  de l’Atlantique  nord (OTAN) đã đến Afganistan.. Được sự ủy nhiệm của CSNU , lực lượng này bao gồm 48 quốc gia tham gia . Phần tham gia của   FIAS  mang tên chiến  dịch  “ Pamir “, Pháp tham gia với OEF chiến dịch mang tên “Héraklès- 1- “.

          Vào lúc những đơn vi cuối cùng của Pháp rời đất Afganistan sau một cuộc chiến kéo dài hơn cả cuộc chiến tại Việt Nam  - theo nhận định của các lực lượng đồng minh  Mỹ-  công trình này mô tả những hoat động cam kết của quân y các quân chủng Pháp /Services de santé des armées/ SSA qua 4 thời kỳ lớn : 2001 – 2003, 2003 – 2007 , 2008 – 2012 và sau 2012. Qua các cứ liệu về

hoạt động, có thể rút ra những bài học về tổ chức và bảo đảm quân y, coi đó là nhừng bài học kinh nghiệm lớn về tổ chức và bảo đảm quân y.

J.-B. POHL,y sỹ trưởng  L. SUM, y sỹ. E. CZERNIAK y sỹ trưởng.O. HERSAN, y sỹ trưởng. N. FAURE thú y sỹ. E. ANGOT y sỹ trưởng.. 

GIA NHẬP CHIẾN TRƯỜNG VÀ MỘT CAM KẾT BAN ĐẦU HẠN CHẾ

           Nằm trong tổ chức FIAS và OEF, lực lượng quân đội Pháp đã liên tục đóng góp vào các hoạt động bảo đảm an ninh , ổn định và huấn luyện. Sau cuộc thâm nhập từ phía bắc Afganistan (Mazir- e Sharif ), Pháp đã cung cấp các  phương tiện hàng không bảo đảm nhiều đối tượng sử dụng khác nhau ( hỗ trợ đường không cho các lực lượng mặt đất, thông tin, vận tải và tiếp tế ). Một ttểu đoàn bộ binh BATFRA (2)  triển khai từ tháng Giêng tại sân bay quốc tế Kabun, và một Cụm không hải quân/ Groupe aéronaval/ GAN trong Ấn Độ Dương. Phần lớn  đất nước còn lại của Afganistan thuộc về hoạt động của các lưc lượng Mỹ và đồng minh Afganistan của Mỹ.Từ sau tháng Mười Một 2001, các lực lượng của SSA Pháp đã triển khai công việc theo nguyên tắc và học thuyết quân y  Pháp : bảo đảm theo nguyên lý y khoa hóa tuyến trước, phẫu thuật và hồi sức tại tuyến trước, thưc hiện chuyển thương sớm theo hệ thống.      .

           Để điều phối việc gia nhập chiến trường của các lực lượng quân y Pháp, một thủ trưởng quân y chiến trường (COMSANTE) được phái đến Afganistan cùng việc  đièu đến Aganistan  các thành phần cần thiết. Nhiều trạm quân y  đã hình thành trong các đơn vị quân Pháp, trong khi một đội phẫu thuật quân y không vận/Antenne chiturgicale aérotransportable (ACA) được triển khai tại cứ điẻm Pháp ở Mazir-e Xarif , Từ tháng Giêng 2002 , nhiệm vụ 2  Căn bản (3) (rôle 2 Basic )  đã được triển khai tại vùng Kabun. Tiếp đó những đội phẫu thuật Pháp tiếp nối nhau đến làm nhiệm vụ kể từ tháng Mười 2002 trong bệnh viện nội ngoại khoa / Hôpital Médico-Chiurgical /HMC Đức  làm nhiệm vụ 2 mở rộng (role 2 Enhanced –role 2E ) triển khai tại trại Warehouse gần Kabun.

2003 – 2007 MỘT CUỘC CAN THIỆP QUÂN SỰ TỐI THIỂU

Sự  ủy nhiệm của FIAS lúc đầu chỉ hạn chế trong vùng Kabun, nhưng dến tháng Mười  2013 đã mở rộng toàn Afganistan . Trong trao đổi liên tục giữa

Pháp và Mỹ về vấn đề I Rắc, vê phương tiện quân sự  Pháp đã phát triển đến khái niệm  “ can dự tối thiểu cò gia tăng giá trị cao “.Điều đó đuọc diễn dịch cụ thể bằng  sự phát triển các nhiệm vụ, hợp lý hóa và sự  hiện hữu các phương tiện.Trong các năm 2003 – 2005, tinh hình chung là  tương  đói yên tĩnh.Ngay trong khu vực Kabun đã có thể cho phép đi ra ngoài không cần xe bọc thép hộ tống. Nước Pháp nhận quyền chỉ huy FIAS  từ tháng Tám 2004 đến tháng Giêng 2005 cùng vói việc duy trì  các phương tiện đường không theo khối lượng và nhiêm vụ cũng như trong BATFRA tại Kabun.Mùa hè 2006, nước Pháp nhận quyền chỉ huy vùng Kabun( Régional Commanhd Capial-RCC/ Chỉ huy khu vực thủ đô (3 ).Từ  2002 -2007, Lực lượng GAN được triển khai ba lần trong Biển Án Độ ( chiến dịch Agapanthe ) với đơn vị phẫu thuật trên hạm (Élément chirurgical embarqué/ECE)

Từ  giữa 2006 -2997, bốn biệt đội ( Operationnal Mentoring and Liaison Team-OMLT -4-) được thành lập để hỗ trợ quân đội quốc gia Afganistan và đứng hàng đầu trên tuyến đấu tranh chống quân nổi dậy. Những đơn vị của OMLT này  hoạt động  rải rác  trong nhiều khu vực thường đặt dưới trách nhiệm của quân đội Mỹ. Năm 2006 một biệt đội không quân được thành lập tại căn cứ Kandahar của Mỹ (Chỉ huy khu vực Nam /Régional Command Sud RS-Sud ).Các hoạt động quân sự phần lớn đã chuyển sang tấn công trên toàn cõi kể cả ở Kabun.

Khi nước Pháp nhận quyền chỉ huy khu vực Kabun  và trại Warehouse , quân y Pháp  đã triển khai một cụm  nội ngoại  khoa  Groupement medico chirurgical/GMC vào mùa hè 2006 , nhằm tạo lập một khu vực kỹ thuật tương ứng thực hành nhiệm vụ kỹ thuật 2E. GMC này thay thế bệnh viện nội ngoại khoa Đức có nhiệm vụ triển khai trở lại tại Mazâ-e-Charif  bảo đảm trực tiếp cho đội quân Đức cũng vừa chuyển đến đây thành bộ chỉ huy khu vực Bắc/régional Command  Nord- RC-Nord),Nhiệm vụ 2E này thuộc về 2 đơn vị nội ngoại khoa của OTAN được triển khai tại Kabun, một đơn vị khác của Tiệp khắc làm nhiệm vụ 2 triển khai tại KaIA, một tổ chức bảo đảm nhiệm vụ đơn vị quân y quá cảnh /Unité Médicale de transit/UMT.

Cụm bệnh việ n nội ngoại khoa khác/ GMC Pháp tại Warehouse có 4 khối phẫu thuật, 4 giừơng hồi sức, 3 trạm chống sốc chấn thương và 20 giường điều trị, có 75 quân nhân, y sỹ và y tá bệnh viện cùng sự hỗ trợ của nhân viên cận lâm sàng các trung đoàn quân y. Một kíp phẫu thuật Đức và một kíp phẫu thuật Bungari thực hiện việc hỗ trợ thông thường của GMC.

Đồng thời , một tổ phối trí chuyển thương Paitent  évacuation coordination Cell (PECC) đơn vị thực sự điều hành công việc chuyển thuong chiến thuật đã hình thành trong tổ chức bộ tham mưu của RC-C. Đơn vị này có tên gọi là Trung tâm chỉ huy điều tiết cơ bản Medical Regulation Command Capital (MedRCC). Phạm vi hoat động của trung tâm này là toản khu vực các đơn vị Pháp chịu trách nhiệm chung quanh Kabun.

. Nhiệm vụ điều hòa đã được thực hiện tốt đẹp, trước mọi yêu cầu y khoa : quyết định,  phối trí,  theo rõi,  bảo  đảm phần kỹ thuật y khoa  đầy trách nhiệm. Kíp Med RCC có 2 y sỹ ( 1 pháp, 1 Đưc ) , 2 y tá ( 1 Pháp1, 1 Đức). Các y sỹ Pháp làm việc 12 giờ với nhóm  2  y tá Đức, và nhóm 2 y sỹ Đức làm việc với 2 y tá Pháp.

2008 – 2012 - Bảo đảm quân y

cho một lữ đoàn Pháp vào chiến đấu

  

 

Sau khi đắc cử Tổng thống Sarkozy triển khai bước đi tiếp cận chiến luơc với đồng minh Hoa Kỳ. Mùa hè 2008 nước Pháp đã tăng cường các phương tiện chiến dịch bằng việc thành lập một Cụm chiến thuật Liên quân /Groupement tactiques interarmees (GTIA) trong tỉnh Kapisa và một Cụm lực lượng đặc biệt liên quân tại miền Đông Afganistan /Groupement de forces spéciales dans l’Est   (RC-Est) Afganistan . Tình hình đó như trở lại thòi ký chỉ huy của  RC-C cho đến khi bắt đầu chuyển giao trách nhiệm về an ninh  này cho người Afgannistan vào mùa hè 2009,.

Ngày 18 tháng Tám 2008, trận phục kích tại Uzbeen nhắm vào quân Pháp trong vùng Surobi, 60 km đông Kabun đã làm thiệt mang 10 lính của BATFRA. Tổn thất của Pháp trong trận này là tổn thất nặng nề chưa tùng được ghi nhận trong một chiến dịch từ sau chiến tranh Algérie.

Tháng Mười Một lữ đoàn “ La Fayette “ (5) đã mở một chiến dịch cùng với GTIA tại Surobi ( bán BATFRA của Kabun và một GTIA tại Kapisa trong khi tiểu đoàn hậu cần /Bataillon logistique (BATLOG) vẫn đồn trú tại Warehouse.

Từ giừa 2009 và 2011, Pháp tiếp tục triển khai các phương tiện OMLT trong  khu vực  hoạt động chính tại Kapisa và Surobi đã thực hiện liên kết có hiệu quả.

Tháng Mười  2011, việc lần lượt rút lực lượng Pháp được công bố trước đây vào tháng Sáu cùng năm được bắt đầu. Tháng Sáu 2012. việc rút các dơn vị chiến đấu bắt đầu và kết thúc vào cuối 2013, sớm hơn dự định 1 năm. Việc này đã được hoàn thành cuối tháng Mười Hai 2012

Bảo đảm quân y mức độ 1

Trong giai đoạn này , quân y Pháp đã bảo đảm quân y trực tiếp cho hai GTIA, một BATLOG, sáu  phân dội OMLT, và nhiều phân đội nhỏ, lẻ ( chủ yếu là lực lượng quân cảnh / hiến binh và không quân) .Y sỹ trưởng (đối hàm trung tá quân y ) của GTIA chịu trách nhiệm tổ chức, điều hành công tác bảo dảm quâny trong vùng có trách nhiệm. Cường độ các chiến dịch và những tổn thất nhân mạng khiến quân y Pháp  phải tăng cường hoạt động trong GTIA bằng cách tằng cường những kíp y khoa cơ động. Mỗi  y sỹ trưởng của GTIA có tổng cộng sáu kíp y khoa nhằm thực hiện việc bảo đảm quân y mức 1 của GTIA. Trong tổ chức của OMLT, nhân viên quân y tham gia vào các công việc huấn luyện  cho quân lính Afganistan, đặc biệt là việc đảm bảo cứu chữa thương binh.

Cũng  thời kỳ này, đặc biệt để đáp ứng nhu cầu bảo đảm quân y cho các đơn vi tham chiên của OMLT, SSA Pháp  đã liên lạc với tư lệnh các lực lượng mặt đất, bắt đầu  bằng việc phát triển cứu hộ chiến đấu , đặc biệt lả cứu chữa mức độ 2 (SC2). Lọi ích của việc huấn luyện này đã  nhanh chóng được mở rộng cho toàn thế  chiến sỹ cứu hộ đồng đội ngay trong chiến đấu với mức độ cáp cứu 1 (SC1) và huấn luyện cho toàn thể các nhân viên quân y với mức độ cấp cứu  2  (SC2 ) Để  bảo  dảm  việc thực  hiện cứu hộ SC1, mỗi chiến sỹ được cấp phát một túi  chiến đấu cá nhân (Trousse individuelle du combattant/TIC) đã được hiện đại hóa trong đó có giây càm máu xoắn / garrot tourniquet.(6)

          Ngay từ  2011 quân y Pháp đã đưa vào sử dụng phương tiện này trong tất cả các đơn vị  trừ  HCM tại KaIA nơi có khả năng thực hiện cấp cứu mức độ 3. Vì lý do cần đóng cửa các trạm cấp cứu, biện pháp ngừng hoạt động các tổ chức  hữu cơ sang các tổ chức khu vực nhằm duy trì tính liên tục trong cấp cứu.

Bảo đảm quân y mức độ 2 và 3

Tháng bảy 2008 OTAN  quyết định thành lập một HCM ( nhiệm vụ 3 ) trong địa phận quân sự tại KaIA và nước Pháp là quốc gia cầm đầu hoạt động này. Đó là một trong năm chức năng của nhiệm vụ 3.của FIAS. Với nước Pháp việc đưa vào sử dụng một cấu trúc cứu chữa nội ngoại khoa trong xung đột là lần đầu sau cuộc chiến vùng Vịnh (1991). Cuối 2008 và trước khi các hoạt  động nhiệm vụ 2 của Tiệp khắc tại khu vưc KaIA đóng cửa, chức năng chuyển thương đướng không đã quay trở lại với HMC tại KaIA.  Bệnh viện GMC tại Warehouse trở thành tổ chức  nội ngoại  khoa  duy nhất  của RC-C (2) trong  suốt  nửa năm đầu 2009. Tháng 7 HCM của KaIA đã tiếp nhận bệnh nhân đầu tiên.

Đã có 120 nhân viên Pháp và một số nước khác (Đức, Tiệp,   Bnngari, Hungari và Bỉ ) làm việc tại HCM KaIA được phân phối vào nhiều khoa  lâm sàng. Việc tham gia của các đoàn quân y người nước ngoài này giao động từ 20 đến 40 người tùy theo việc rút về nước của một số quốc gia, khả năng giải quyết chuyên môn trong nhiều chuyên khoa sâu ( nhất là phẫu thuật tạo hình ) và tinh thần tự nguyện của mỗi nước thành viên  trong việc hợp tác đa quốc gia này thật đáng ca ngợi ( phẫu thuật thần kình va nhãn khoa ), quân y Pháp đã bảo đảm việc quản lý và điều hành với tư cách quốc gia lãnh đạo sự hợp tác đa quốc gia này. Một OPS room/ Operation  per  second / Phòng phẫu thuật tính từng giây hoạt động 24 giờ mỗi ngày đã bảo đảm liên kết với nhóm  PECC / Patient Evacuation Coordination Cell / Đơn vị điều phối chuyển thương hinh bệnh binh - một tổ chức của NATO - nhằm tối ưu hóa việc tiếp nhận  thương hinh , bệnh binh được chuyển đến.

Cấu trúc bệnh viện này  giống như cấu trúc tương ứng của Trung tâm phẫu thuật của người Anh vì mục tiêu hàng đầu của nó là tiếp nhận và săn sóc thương binh. Tổ chức này có hai khối phẫu thuật về ngoại khoa chung ( có thể mở rộng thành ba khối trong trường hợp thương binh về dồn dập một thời gian ngăn và một khối phẫu thuật chuyên khoa.  Mỗi khối đều có 1 kíp phẫu thuật làm việc. Đơn vị điều trị tăng cường /Unité  de soins intensifs /Intensif care unit – ICU cho phép tiếp nhận xen kẽ nhau 4 thương binh cần hồi sức ( mở rộng có thể tiếp nhận 7 , ba mươi giường điều tri đã góp phần hoàn thiện tổ chức này. Phần kỹ thuật còn lại được tổ chức liên kết thành cụm CT Sanner, chẩn đoán hinh ảnh bằng siêu âm (échographie), các phòng xét nghiệm y khoa và khoa luyện tập phục hồi chức năng (kinesithérapie). HCM KaIA còn có khả năng cứu chũa trong nhiều chuyên khoa khác ( tâm thần, nha khoa và các chuyên gia y học..) Việc phát triển quá mức các lực lượng can dự phát sinh từ việc liên kết và phát triển các phương thức hoạt động đã dẫn đến việc giảm thiểu  nhu cầu cứu chữa.  Công việc cứu chửa lại phát triển theo hướng tiếp nhận người bị thương của các lực lượng vũ trang và an ninh người Afganistan và dân thường vùng “ đại Kabun” . Ví như trong tháng Chín 2011 là thời gian có nhiều hoạt động quân sự , đã có  1 300 hoạt động phẫu thuật, trên 3 000 ngày nằm điều trị  và hơn

17 000 lượt khám chữa bệnh ( nguồn Ban Tham Mưu quân y chiến dịch).

          Từ khi thành lập, HMC KaIA đã ghi nhận nhiều liên minh nhận tiền chi trả của OTAN/NATO, điều đó chứng minh mức độ tham gia của Pháp trong việc tích hợp cùng các lực lượng quốc tế và sự tín nhiệm với quân y Pháp của lực lượng vũ trang các quốc gia khác đã  tín nhiện ủy thác việc cứu chữa thuong binh bệnh binh của họ.

          Với vai trò tư vấn/ cố vấn (mentoring), theo nhiệm vụ  OMLT, quân y Pháp đã thực hiện chiến dich  EPIDOTE, chiến dịch có mục  đích huấn luyên binh sỹ quân đội quốc gia Afganistan do Pháp đảm nhiệm. Tứ Tháng Mười  2010 đến tháng Mười 2011, các kíp phẫu  thuật Pháp được cử đến bệnh viện quân y cũa quân đội Afganistan .và nâng cấp trình độ cho bệnh viện này.

          Bảng 1 nói lên trong thời gian 2008 – 2012, tình hình phát triển các cơ cấu và quân số lực lượng quân y Pháp tham gia Chiến dịch Pamir.

Bảng I- Tình hình phát triển về cấu trúc mức độ cứu chũa 1 và 2/3 và những số liệu về quân y trong chiến dịch Pamir.

 

 

Thời gian

 

 

Nhiiệm vụ 1

 

 

Nhiệm vụ 2/3

 

Quân số lực lượng QY

Tỵ lệ lực lượng quân y trong lực lượng Pháp

7-2008

8

GMC Warehouse

165

8,8%

7-2009

18

HCM KaIA

277

7,2%

9-2009

22

HCMKaIA

265

        7%

10-2011

24

HCMKaIA

276

        6,2%

6-2012

18

HCMKaIA

216

5,6%

12-2012

 6

HCMKaIA

126

12.6%

Sau 2012

Từ  tháng Giêng 2013 cho tới khi rút các đơn vị Pháp, việc can dự quân sự của Pháp chỉ còn số nhân viên nằm trong  lực lượng tại KaIA, trong các toán đào tạo,  trong các chuyên gia huấn luyện chống vật liệu gây nổ tại nơi cần thiết và tai KaIA.

Việc rút các đơn vị chiến đấu hoàn thành, các phương tiện của SSA Pháp từ nay chỉ còn sáu đơn vị làm nhiệm vụ 1 đủ khả năng làm nhiệm vụ chuyển thương đường không bằng trực thăng và một đơn vị làm nhiệm vu 3.Trước sự mong đợi của OTAN/NATO và những cam kết can dự về chính trị,  Pháp duy trì  khả năng cứu chữa nội ngoại khoa tại Afganistan với trách nhiệm là quốc gia lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ 3 tại KaIA.

Kể từ tháng Giêng 2014, việc giảm dần  khả năng cứu chữa của HCM KaIA  đã được dự kiến, sự giảm thiểu này làm phát triển nhiệm vụ 3 thành nhiệm vụ 2E ngay từ quý Một 2014 trước khi thực hiện một khuôn khổ tiếp tục giảm chỉ còn 30 nhân viên vào quý Hai. Việc đóng cửa HCM KaIA dưới dự lãnh đạo của Pháp đã được lên kế hoạch từ mùa Hè 2014 Nhiệm vụ 1 tiếp tục được duy trì đến hết năm 2014 để bảo dảm quân y cho các nhân viên quân sự  Pháp tham gia trong các ban tham mưu của FIAS.

Vào lúc  biên tập tài liệu này, tương lai của HCM sau khi lực lượng Pháp đã  rút  hết vẫn chưa  được định đoạt ( do một quốc gia khác lãnh đạo ? ),. Một khi lực lượng của FIAS đã hoàn thành , sự hiện diện của quân sự của một số nước Phương Tây vẫn còn chưa rõ ràng  và trực tiếp tùy thuộc vào và những quyết định tiếp theo cuả Mỹ ( chiến dịch  NHIỆM VỤ YỂM TRỢ QUYẾT ĐỊNH /RESOLUTION SUPPORT MISSION).

Những bài học lớn  rút ra từ hoạt động quân y Pháp tại Afganistan

Xung dột tại Afganistan biểu trưng cho một cuộc đối đầu không tương xứng thể hiện trước hết qua các hoạt động du kích và khủng bố.Thời sự  của cuộc xung  đột này cho thấy quan niệm cứu chữa của quân y Pháp đã thể hiện tất cả tính đúng đắn của nó qua theo rõi sự thích nghi về kỹ thuật cũng như  về chiến thuật. Y khoa hóa và ngoại khoa hóa tuyến trước đã trở thành đối tượng của việc hiện đại hóa các phương tiện sử dụng cũng như về vật tư kỹ thuật khi thực hiện nhiệm vụ. Có bốn bài học lớn qua kinh nghiệm đã được khảo sát :chức năng chuyển thương đường không (C2  y khoa) , mức độ tích hợp các phương tiện y khoa của liên quân trong môi trường yểm trơ, sức mạnh cứu chữa ngay trong chiến đấu và việc hiện thực hóa mang tính nghề nghiệp trong chiến đấu.

 Tái khẳng định về C2  y khoa (6a)  

 

Việc làm chủ một giây chuyền cấp cứu hoàn chỉnh đã trở thành một sức mạnh cho quân đội Pháp tại Afganistan. Nó không chỉ được trang bị các phần khác nhau của giây chuyền  này, mà còn phải hiểu biết nó, sử dụng và đưa vào thực hành  toàn bộ các phương tiện nhằm cứu chữa tối đa nhân mạng và giữ gìn năng lực thực hành chiến dịch của các lực lượng đa quốc gia.tham gia .

Trên bình diện chiến lược, Ban tham mưu quân y chiến dịch EMO/État major opérationnel  đã được thành lập vững mạnh nhất vào năm 2007 trong chiến dich “Pamir “, trở thành hòn đá tảng trong quan niệm và điều hành bảo đảm quân y các chiến dịch. Là tổ chức chuyên gia hữu cơ gắn liền với hoạt động của Bộ Tham mưu liên quân trung tâm kế hoạch hóa  và lãnh đạo chiến dịch ( EMA/ centre de planification et de conduite des operations ).

Trên bình diện chiến dịch, một cán bộ quân y làm cố vấn y học trong  Bộ tham mưu  và là người đứng đầu giây chuyền cứu chũa, bảo đảm chức năng Giám  dốc  y  khoa ( ví dụ-COMSANTE ) có những chức năng đã  được xác định năm 2007. Vị giám đốc này có môt văn phòng quân y tách khỏi  phòng hậu cần J4. Kể từ nửa cuối năm 2011 và trong một cam kết quan trọng , người giám đốc  điều hành có thể dựa vào người  y sỹ phó của MEDOPS chuyên trách trong điều hành bảo đảm quân y.

Trên bình diện chiến thuật, vị y sỹ trưởng của lữ doàn được coi như là người đứng đầu điều hành giây chuyền y khoa và cố vấn y khoa của thiếu tưởng tư lệnh lữ đoàn. Với chức năng giám dốc y khoa , vị này dựa vào các y sỹ trưởng của GTTA là những người ngoài chức năng nhà lâm sàng đã hoàn toàn hòa nhập vào các ban tham mưu chiến thuật trong việc tham gia tổ chức, kế hoạch hóa và chỉ đạo nhiệm vụ bảo đảm quân y.

 Hợp tác  công việc chuyển thương ( MEDEVAC  )chiến thuật là một nội dung then chốt khác trong việc điều hành tại chiến trường Afganistan  : quan niệm cưu chữa của PECC tạo nên một sự phát triển nổi tiéng. Việc phê chuẩn các tiêu chuẩn của OTAN đã tạo nhiều thuận lợi cho việc tích hợp các cấu trúc quân y Pháp trong lòng FIAS. Hiện vẫn còn tồn tại khác biệt giữa các học thuyết cứu chữa giữa Pháp và OTAN; nếu các giây chuyền cứu chữa với định nghĩa tương đối chồng chéo, vẫn còn không dễ hòa đồng , nếu không có những định nghĩa về nội dung cứu chửa - đặc biệt là những nội dung về y khoa hóa - dễ bị thay đổi về thực chất. Để giải quyết những khác biệt này, một tổ điều hòa chuyển thương  PECC / Patient Evacuation  Coordination Cell đã được lồng ghép trong ban tham mưu của lữ đoàn TFLF / Force opérationnele du  Brigade La Fayette/(Task Force La Fayette ) vì tại đó đã có một hợp thành chiến thuật Pháp quan trọng nhất . Đơn vị PECC Pháp phối hợp  với MEFDEVAC chiến thuật, dưới quyền PECC sư đoàn của RC-Est. Những cống hiến của PECC TFLF đã  bảo đãm  toàn bộ khu vực Pháp đảm nhiệm  cho các lực lượng Pháp và lực lượng nước ngoài. Một lợi ích thứ hai nữa của PECC TFLF là có thể chuyển các thương binh và bệnh binh Pháp  về HCM KaIA, điều này cho phép  thực hiện việc chăm sóc ngay trong giây chuyền cứu chữa quốc gia. Việc cứu chữa  tiếp theo cho các thương binh bệnh binh này đã được dễ dàng thuận lợi.  

 

Tích hợp các phương tiện y khoa  ngay tại môi trường báo đảm 

Việc thay đổi cách điều hành chiến dịch ghi nhận được ở Afganistan  cần thiết phải nhấn mạnh tính chất liên quân và phải mở rộng kiến thức tới các mức sơ đẳng. Trong khuôn khổ những chiến dịch mặt đất đặc biệt là khi có những hoạt động tư vấn, cố vấn / mentoring, việc sử dụng những biệt đội cô lập về mặt địa dư hoặc sử dụng những biệt đội nhỏ đả trở thành một mốt trong hoạt động điều hành  theo cách / theo gương những lực lượng đăc biệt. Suốt quá trình chiến dịch “ Pamir “, quân y Pháp đã đề xuất những giải pháp thích hợp, có thể chuyển đổi , mềm dẻo sao cho những kế hoạch chiến dịch, đặc biệt triển khai cấp cứu khẩn trương SC2  khi cần  bảo đảm các biệt đội cô lập và những biệt đội rất nhỏ. Việc thực thi bảo đảm khu vực  có phối hợp và dựa vào phương tiện chuyển thương thích hợp, trong trường họp rút dần cam kết can dự cũng là một ví dụ khác  về tính thích nghi kiên định.

Tầm quan trọng của việc can dự ở Afganistan đã khiến quâny  Pháp tìm tòi tất cả các nguồn nhân lực có thể khai thác để đưa các y sỹ và y tá ra ngoài khu vực ban đầu ( Lực lưởng hải quân, Lực lượng đại dương chiến lược ).

Việc ứng dụng ,khai thác những phương tiện liên quân không mâu thuẫn với lôgic môi trường, quân y Pháp đã tiếp tục huấn luyện đội ngũ nhân viên quân y  thích nghi với môi trường mặt đất và hàng không, điều đó bảo đảm cho việc tích hợp ngày càng nhiều  những kiến thức  quân sự cần thiết. Những hiểu biết về môi trường này còn được bổ sung qua việc đào tạo những kiến thức về liên môi trường nhằm tạo thuận thận lợi khi thực hành liên chiến dịch và hoạt động liên quân.Tầm nhìn mở rộng này là một thế mạnh cho các y sỹ có kinh nghiệm được điều động vào chức năng Giám đôc y khoa.

Phát triển sức mạnh cứu hộ trong chiến đấu  

 

 Tại Afganistan , nhập môn kiến thức thường thức về  cứu hộ người bị thuong trong chiến đấu đã trở thành tiêu chuẩn thông  thường cho thấy đây thật sự là một tiến bộ vượt bậc. Hoạt động y tế  có tính liên tục trong giây truyền cứu chữa, việc cứu hộ trong chiến đấu đã cho phép đạt được các mục tiêu thời gian giới hạn trước khi chuyển thương. Được trang bị túi cá nhân  cấp cứu sinh mệnh khiến cho tất cả các chiến đấu viên từ nay có thể cấp cứu ban đầu cho đồng đội ngay sau khi bị thương.

Với nhân viên quân y việc huấn luyện SC2 hay SC3 không chỉ nhấn mạnh tác dụng huấn luyện mà còn cả kỹ năng cá nhân người thực hành cứu chữa từ khi bắt đầu đến lúc kết thúc trên thực địa giống chiến trường cho tới khi thực tế hành động. Cứu hộ trong chiến đấu đã trở thành nhiệm vụ hiển nhiên cần thực hiện đối với thương binh, và sự cần thiết phải tiêu chuẩn hóa những động tác cấp cứu cho tất cả nhân viên quân y thuộc các lực lượng.

Tiếp theo việc phân tích cuộc xung đột này  và với những trường hợp đặc biệt,việc thực hành  cứu hộ mức độ 2, đã  là  vấn đề khẩn cấp đặt ra cho các nhân viên y tế cận lâm sàng trong các tổ chức quân y cũng cần được huấn luyện.

Tiếp nối việc phân tích tình hình xung đột trong trường hợp đậc ,biệt người cứu hộ cần có khả năng làm được trình độ 2 , vấn đề cứu chữa khẩn cấp trở thành nghiệp vụ bổ trợ từ đây đã rõ ràng được đặt ra, những mục tiêu liên phẫu thuật do các nhóm cận lâm sàng thực hiện. Điều chủ yếu là cần nghiên cứu khả năng hoàn thiện thành thạo , tích hợp nó trong tập thể đội ngũ nhân viên quân y. Điều này đặt ra trong phạm trù nghề nghiệp từ tuyển dụng, đào tạo và sử dụng những quân nhân này trong khả năng  bảo đảm quân y.Những kinh nghiệm này cần được chia xẻ với các đồng nghiệp y tế về huấn luyện cứu chữa khẩn cấp cho các nhân viên cận lâm sàng.

Đưa vấn đề chuẩn bị bảo đảm quân y trong chiến dịch vào ngành y tế.

 

Quân y Pháp đã thành công trong nhiệm vụ bảo đảm quân y thực hiện các cam kết tại Afganistan, đăc biệt là rút ra được nhửng bài học trong chuẩn bị chiến dịch. Việc đào tạo kỹ năng cho đội ngũ nhân viên quân y có hiểu biết về các hình thái  y học và quân sự là không thể thiếu. Cần  đào tạo về khả năng làm chủ cho các kíp công tác về thực hành các kỹ năng  nội khoa, ngoại khoa, cận lâm sàng là những điều quen thuộc khi còn trong nước  cũng như khi đến làm việc trong hoàn cảnh chiến dịch.

Đã có nhiều khóa huấn luyện trong khuôn khổ chuẩn bị chiến dịch trước khi được đưa đến Afganistan. Những khóa này thường dành cho các nhà lâm sàng va nhân viên cận lâm sàng  là cán bộ quân y nhưng cũng cần thiết cho những người không làm nghề y phục vụ trong tổ chức quân y.

Những lớp đào tạo chuyên biệt trên chiến trường Afganistan chỉ dừng lại khi không còn cam kết ( các tổ chức đã chuẩn bị nhưng chưa được phái đi làm nhiệm vụ / mise en condition avant  projecion /MCP ) với những kíp ngoại khoa làm nhiệm vụ 3 , Những khóa huấn luyện khác  với nhiều trình độ khác nhau từ kinh nghiệm tại chỗ với các khóa :

-  các khóa đào tạo nhiều trình độ khác nhau về cứu hộ trong chiến đấu.

-  thực tập “ cứu sống một thương binh    nhiệm vụ 1  “/ mise en condition de survie d’un blessé de guerre- MCSBC/rôle 1 “

- thực tập “ y khoa hóa trong môi trường thù địch “/ médicalisation en milieu hostile/  MEDICHOS”.

- đào tạo  “ y tá trong tình thế  cô lập “ / infirmiers en situation isolée/ ISIS

- lóp tăng cường về phẫu thuật trong nhiệm vụ ngoại biên / cours avancé  de chirurgie en mission extérieure  CACHIRMEX giảng dạy về  damage control surgery (7).

- huấn luyện việc săn sóc tâm lý hoc y khoa cho chiến đấu viên.

- huấn luyện y học quân sự như : kiến thức y học quân sự trường phái Anh khi tham gia các hoạt động trong khuôn khổ OTAN hoặc đại cương xạ kích chiến đấu  (instruction sur le tir du combat/ ISTC) cho nhân viên quân y.

Những nội dung huấn luyện này không có tính chuyên biệt cho một lãnh thổ nào đó mà có thể ứng dụng cho tất cả các loại chiến trường, Trường huấn luyện –bênh viện / hopital instruction  des Armées – HIA -  đặt tại Val de Grâce trung tâm huấn luyện của Tông Cục Quân Y Pháp , liên hệ với EMO santé / État major opérationnel /Phòng quân y chiến dịch thuộc Tổng Cục Quân Y’

Kết luận  

Mười  ba năm can dự của quân y Pháp trong chiến dịch “ Pamir “, đã thực hiện  234  020 lượt khám chữa bệnh, 8 738 cuộc can thiệp phẫu thuật và  6 738 lượt chuyễn thương chiến dịch. Nhưng Lịch sử trước hết ghi nhận 89 quân nhân trong đó có 6 nhân viên quân y đã ngã xuống vì nước Pháp trên đất Afganistan. Điều đó gợi nhớ đến nhiều người bị tổn thuong chiến tranh về  cơ thể và tâm lý đã được lực lượng quân y Pháp  cứu chữa, chăm sóc, phục hồi  sinh hoạt  đời  thường trong cuộc sống  hàng ngày.

Quân y Pháp đã tổng kết kinh nghiệm Afganistan  bằng cách  hiện đại hóa tổ chức và phương thức hoạt động trên kế hoạch tổ chức  C2 y khoa , việc chuẩn bị chiến dịch đặc biệt cho tất cả các đơn vị quân y tham gia chiến dịch, việc tích nhập vào môi trường chiến đấu và cứu hộ trong chiến đấu cùng nhiều phát triển khác đã đánh dấu những bước phát triển trong bảo đảm quân y chiến dịch.

Việc tham gia đầy đủ của các quân chủng Pháp, đặc biệt trong thời kỳ 2008 – 2012, chiến dịch “ Pamir “ sẽ khắc họa sâu sắc trong nhiều thế hệ quân y tiếp theo. Ý tưởng  trong cuộc xung đột này là nghiêm túc và liên tục thể hiện ý chí của   quân đội Pháp. Chiến dịch “Seral “ (8 ) đánh dấu bằng những chuyến bay đường dài nối liền hàng trăm km qua Mali còn nhắc mọi người nhớ về  cuộc xung đột  Afganistan được coi là  những kinh nghiệm quân sự của MỘT cuộc chiến tranh và chắc chắn không phải là của  CHIẾN TRANH.

 Các tác giả không tuyên bố xung đột lợi ích liên quan đến các dữ liệu trong tài liệu này,

Chú giải của người dịch 

( 1 ) Chiến dịch/ cuộc hành quân ./Opération : Pamir là tên gọi quân sự của các lực lượng Pháp tạii Afganistan  do lực lượng quốc tế  vè  Cứu trợ và bảo đảm an ninh (PIAS?ISAF) theo ủy nhiệm của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, dặt dưới sự chỉ huy của khối Tổ chức Hiệp Ước Bắc Đạ Tây Dương /OTAN/ NATO, các toán tuần tra trong tỉnh Kabun. một jhu vưc rộng lớn gốm cả thủ đô Afganistan, cũng như vùng đồng bằng rộng lớn phía bắc Shamali.

 Opération Héraclès- năm 2001 do hải quân Pháp thưc hiện nhằm yểm trợ cuộc chiến  tại Afganistan chống lại Taliban. Ngày 21 tháng  Mười 2001  tàu sân bay Charles de Gaulle và một số tầu chiến khác đã đến hoạt động tại biển Ấn Độ.

 Các đơn vị Pháp thuộc Lực lượng Quốc Tế Cứu trợ và bảo đảm an ninh  tại Afganistan  phần lớn tập trung tại Kabun nơi có bản doanh  Vùng chỉ huy cơ bản , thường được biết đến với tên gọi Anh ngữ la Region Command Capital( RC-C) thuộc quyền chỉ huy của Pháp từ tháng Tám 2008. Những đơn vị này có sự tham gia của Pháp vào Bộ tham mưu của RC-C, một tiểu đoàn mang tên BATFRA, một tiểu đoàn  chỉ huy và yểm trợ/ Bataillon de commandement et de soutien (BCS) và một biệt đội trực thăng (DetALAT).Từ tháng Mười Một 2009 , những đơn vị chiến đấu chính được tổ chức lại và đặt dưới quyền chỉ huy của Lữ doàn Pháp  mang tên  Lữ đoàn LA FAYETTE/ Brigade La Fayette.

(2, 3 ) Để đạt hiệu quả cao, đã hình thành nhiều loại cấu trúc bảo đảm cho việc theo rõi y khoa với người bị thương trong toàn bộ giây truyền / bậc thang cứu chữa từ “nhiệm vụ 1” đến “ nhiệm vụ 4 “.ở ngay trong lòng các đơn vi chiến đấu đã có những kíp quân y gồm các y sỹ các các kip cận lâm sàng sẵn sàng cứu chữa cho những người bi  đa chấn thương ( nhiệm vụ 1 ) Tổ chức quân y  có các phương tiện cơ động thích hợp cho việc triển khai, có các nhân viên quân y được đào tạo hoàn chỉnh, thông thạo công việc cứu chữa khẩn cấp trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Những cấu trúc bệnh viện nhẹ ( nhiệm vụ 2 ) được triển khai gần nhất các đơn vị chiến đấu cho phép cứu chữa những trường hợp tối khẩn cấp bằng việc thực hiện các kỹ thuật gây mê hồi sức , chống sốc do các nhân viên gây mê hồi sức chống sốc đã qua đào tạo nghề nghiệp trong điều kiện cực hạn. Những cuộc chuyển thương sớm theo hệ thống , công việc đột phá trong bảo đảm quân y Pháp đã trù liệu chuyển thương về những những bệnh viện  quan trọng đủ khả năng  giải quyết các cứu chữa chuyên khoa ( nhiệm vụ 3). Trong quá trinh chuyển thương đường không này, người bị thương được săn sóc liên tục. Khi đã cơ bản ổn định người bị thương được nhanh chóng hồi hương do các kíp quân y chuyển thương dường không MEDEVAC/ Médecine d’évacuation hộ tống về đến 1 trong 9 bệnh viện cơ bản tại nước Pháp để được săn sóc, cứu chữa khâu cuối cùng .

(4) RC-C/ État –major du Regional Command Capital/Bộ tham mưu khu vực Vùng chỉ huy  cơ bản.

(4a)-OMLT(Operational Mentoring and Liaison Teams) là một nhóm nhỏ gồm các cán bộ và chuyên gia co nhiệm vụ tư vấn (mentoring  trong Anh ngữ có nghĩa tư vấn, cố vấn) cho những chỉ huy chiến thuật như tiểu đoàn, lữ đoàn, quân doàn của quân đội quốc gia Afganistan nhằm phát triển và huấn luyện kiến thức cho phép các đơn vị này khai thác các tiện ích ( hỏa lực,không quân, tình báo..)  trực tiếp từ ISAF khi các đơn vị này tham chiến.

(5) Giây cầm máu xoắn ( garrot du Tourniquet ) loại giây cầm máu được chế tác riêng, đặt tại chi thể khi có chẩy máu động mạch. Động tác cấp cứu này phãi được huấn luyện  theo đúng chị định

 

 

Giây cầm máu xoắn Tourniquet . loại dùng tại bệnh viện

Giây cầm máu xoắnTourniquet loai dùng cầm máu tại viễn đoạn chi thể

(5a) Gilbert du Motier de La Fayette 

 

 

Marie-Joseph Paul Yves Roch Gilbert du Motier (6 tháng 9 năm 1757 – 20 tháng 5 năm 1834), thường được gọi Hầu tước La Fayette, là một quân nhân, nhà quý tộc người Pháp từng tham gia Cách mạng Hoa Kỳ với hàm trung tướng và là chỉ huy lực lượng Vệ binh quốc gia trong thời kỳ Cách mạng Pháp.Tới Hoa Kỳ năm 1777 khi nước Pháp còn chưa tham dự vào cuộc chiến, La Fayette phục vụ trong Quân đội Lục địa dưới quyền George Washington. Trận Brandywine, trận đánh đầu tiên La Fayette tham gia, tuy bị thương nhưng ông vẫn chỉ huy thành công cuộc rút quân. Sau khi góp phần vào chiến thắng Monmouth, La Fayette tới Boston dàn xếp cuộc nổi loạn của những cư dân thành phố. Trở về Paris năm 1779, ông thuyết phục triều đình Pháp ủng hộ mạnh mẽ hơn cho Hoa Kỳ. Năm 1780, La Fayette – biểu tượng của mối quan hệ Pháp–Hoa Kỳ – quay lại với cuộc chiến. Tại Yorktown, ông ghìm chân tướng Charles Cornwallis trong khi Washington và Jean-Baptiste Donatien de Vimeur chuẩn bị cho trận đánh quyết định kết thúc chiến tranh.

Trở về nước Pháp, La Fayette tham dự Hội nghị các đẳng cấp vào tháng 5 năm 1789. Ông soạn thảo bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cùng Thomas Jefferson và tham gia Hạ viện với vai trò phó chủ tịch. Trong suốt thời kỳ Cách mạng Pháp, trên vị trí tổng tư lệnh của Vệ binh quốc gia, La Fayette cố gắng duy trì trật tự và cuối cùng lâm vào thế đối đầu với phái Jacobin. Những hành động bảo vệ nhà vuacùng hoàng gia khiến ông bị kết tội vào tháng 8 năm 1792, thời điểm mà phái cực đoan quá lớn mạnh. La Fayette quyết định bỏ trốn sang Mỹ nhưng bị quân Áo bắt tại Hà Lan. Sau 5 năm giam giữ, ông được trả tự do và đến năm 1799 quay trở về Pháp. Năm 1830, trong cuộcCách mạng tháng Bảy, một lần nữa, La Fayette lại giữ vai trò chỉ huy Vệ binh quốc gia và bằng sự ủng hộ của mình góp phần đưa Louis-Philippe I lên ngôi.

Do những đóng góp và vai trò trong ba cuộc cách mạng, La Fayette được vinh danh ở Pháp và cả Hoa Kỳ, nơi rất nhiều thành phố, thị trấn mang tên La Fayette.

(6) C2 là ký hiệu tắt của  Airbus Helicopters (formerly Eurocopter) EC145 loại máy bay trực thăng đa dụng ;chuyển chở hành khách, chuyển thương..khẩn cấp…

Nhìn bên ngoài

Nhìn trong cabin  

 

(7) Damage control surgery / Phẫu thuật kiểm tra tổn thương nghiêm trọng/ một loại phẩu thuật được thực hiên khi có tổn thuong nghiệm trọng do các thày thuốc chấn thương thực hiện nhằm  cấp cứu sinh mạng. Nguyên lý của loại can thiệp này là

- Kiểm tra tình hình chảy máu

- Dự phòng các nhiễm khuẩn thứ phát

- Ngăn ngừa tổn thương thứ phát

(8) Chiến dịch Serval  là  chiến dịch quân sự do quân đội Pháp tiến hành tại quốc gia Mali bắt đầu từ tháng Giêng  2013  và kết thúc tháng Bảy 2014, có mục đích đẩy lùi cuộc tiến công của các nhóm vũ trang Hồi Giáo.

*

Ghi thêm

 Theo tư liệu từ Wikipedia  cho tới 5 tháng Tám tổn thất của Pháp là 80 trong chiến dịch ( chiến đấu, tai nạn,nguyên nhân khác trong đó có 4 nhân viên  thuộc lực lượng Commndo / Biệt kích Hải Quân, và đến 19 tháng Mười 2010 có 471 ngườ bị thương trong đó có 408 thương binh ( trong có 338 bị thương trong chiến đấu được thống kê cho đến hết 2010 ). Từ giữa 2005 đến tháng Giêng 2010 đã có 300 người bị thương trong đó có 155 người bị thương thuộc  thời gian năm 2009 (dễ nhận thấy các thống kê rất khác nhau qua nhiều nguồn ) và 33 người  từ đầu 2010. Trong 74 thương binh trong chiến đấu , có 19 người được chuyển theo dường chuyển thương chiến lược thẳng về Pháp bằng máy bay y tế. Trên một nửa số bị thương này là nạn nhân của những vụ gây nổ..

Hết bản dịch




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa