Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

LỊCH SƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HÀ NỘI


 

LỊCH SƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HÀ NỘI

 

Chương II


THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)

 

PHẦN I. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC NĂM 1945 - 1946

VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH 1945

Năm 1945, trước sự phản công của phe Đồng minh, phe phát xít chỉ còn sót lại Nhật, nhưng cũng đang thua to trên khắp mặt trận châu á - Thái Bình Dương. Do vậy, ở Đông Dương Nhật làm đảo chính chớp nhoáng: chỉ một đêm 9-3-1945 đã lật đổ Pháp để rảnh tay đối phó với Đồng Minh. Nhật tuyên bố cho Việt nam được “độc lập” và lập ra chính phủ Trần Trọng Kim, toàn người Việt, có cả một số trí thức danh tiếng về thực học cũng như về tư cách tham gia. Vua Bảo Đại tuyên bố “dân vi quý”...

Điều đó khiến một số người trong tầng lớp trí thức và thanh niên không khỏi có ảo tưởng, lạc hướng. Những người cầu an và bàng quan nhất với thời cuộc cũng nói tới hai chữ “độc lập”. Nhưng ai chịu suy nghĩ sẽ nhận ra ngay bản chất “bù nhìn” của cái chính phủ do Nhật dựng lên vì nó thiếu hai Bộ quan trọng là Ngoại Giao, Quốc Phòng; và vì thái độ của nó đối với mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc thành lập và đứng đầu, đangđược quốc dân ngóng đợi.

Sau đảo chính 9-3, theo giáo sư Vũ Công Hoè nói lại, Nhật chỉ giam giữ các nhân vật thuộcgiới cai trị và quân sự Pháp, do vậy các thầy người Pháp vẫn làm việc ở trườngY Dược. Điều này cắt nghĩa vì sao có 6 luận án được bảo vệ năm 1945 (Lê Văn Phụng, Hồ Văn Huê, Huỳnh Bá Nhung, Nguyễn Sỹ Dinh, Nguyễn văn Liêu, Nguyễn Tử Vinh). Đây là những bác sỹ y khoa cuối cùng của trường Y Dược thuộc Pháp (ba vị đầu tiên sau này trở thành cốt cán của quân y ta). Tuy nhiên, lúc này vị thế các thầy người Việt trong trường đã khác hẳn trước: 1) số lượng họ rất đông đảo, khác hẳn tình hình ở các trường đại học khác; 2) họ bắt đầu đảm nhiệm nhiều công việc (do các thầy người Pháp bi quan, không còn hứng thú để làm, hoặc đang bị Nhật quản chế). Điều này giúp hậu thế cắt nghĩa được vì sao trường Y Dược vẫn hoạt động có quy củ nhất sau cách mạng tháng 8 và cả trong kháng chiến chống Pháp.

Cuối 1944 và đầu 1945 xảy ra hạn hán diện rộng và vỡ đê trên khắp triền sông Hồng và sông Thái Bình đã gây mất mùa nặng nề. Do vậy đúng vào lúc “giáp hạt”, nông dân chết đói tới 2 triệu người trên tổng số hơn 10 triệu dân Bắc kỳ. Ở Hà Nội, nông dân tràn ra xin ăn, rách rưới, ghẻ lở, bị chết đói và chết bệnh (dịch sốt “định kỳ”) ngay ở hè phố đến mức chôn không xuể. Sau mỗi đêm xác chết bày ra khắp nơi, cảnh tượng hết sức thê thảm.

Mặt trận Việt Minh - do đảng Cộng Sản thành lập (1941), gồm các đoàn thể và các cá nhân yêu nước, đến lúc này đang phát huy ảnh hưởng rất lớn trong phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật - đã hiệu triệu quốc dân và thanh niên tham gia các đoàn thể yêu nước và các phong trào cách mạng. Trong số hưởng ứng có các sinh viên trường Y-Dược và nhiều trường khác. Họ hoạt động bí mật (thời ấy gọi là hoạt động “trong bóng tối”) và chấp nhận mọi rủi ro nếu bị mật thám của chế độ thực dân phát hiện ra. Năm 1945, nhất là sau đảo chính, họ đã có thể hoạt động bán công khai.

Số này không đông lắm so với tổng số sinh viên và bác sĩ, dược sĩ. Ví dụ, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Đặng Ngọc Tốt, Lê Khắc Thiền, Vũ Văn Cẩn, Lê Văn Chánh, Nguyễn Xuân Bích, Nguyễn Dương Hồng, Vũ Công Thuyết, Chu Văn Tích, Nguyễn Sĩ Dư, Nguyễn Minh Tâm và nhiều vị khác. Tuy nhiên, họ tham gia không phải với tư cách người của nhà trường mà là tư cách cá nhân được giác ngộ sớm.

Trường Y Dược - với tư cách là cả một đơn vị tập thể đứng hẳn trong hàng ngũ cách mạng - chỉ bắt đầu từ khi giáo sư Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng.

Trước đó mấy năm, từ 1943, một số đường giao thông và các vị trí quân sự của Nhật ở Hà Nội và ở vài tỉnh đã bắt đầu bị máy bay phe Đồng Minh oanh kích. Sự thực là bom đạn của Đồng minh chủ yếu giết hại thường dân Việt Nam (ở khu Đấu Xảo và ga Hàng Cỏ) và lần đầu tiên các sinh viên y khoa và thầy thuốc người Pháp cũng như Việt tận mắt thấy ở Bệnh viện Phủ Doãn thế nào là vết thương chiến tranh do bom mà họ phải giải quyết. Còn vết thương do đạn bắn thẳng lác đác xuất hiện khi Nhật vào Đông Dương (có vài trận xung đột với Pháp và gây ra tai nạn cho người Việt), và nhiều nhất là khi Nhật làm đảo chính: nhà thương Đồn Thuỷ bị Nhật chiếm, nên thương binh Pháp phải chữa ở bệnh viện Phủ Doãn). Đây là bài học ban đầu, tuy rất đắt giá, để sau này họ bớt lúng túng khi cứu chữa nạn nhân và thương binh trong cuộc chiến tranh với thực dân Pháp. Bác sĩ trẻ tuổi Tôn Thất Tùng ngay hồi đó đã có một vị trí quan trọng về mặt tổ chức cũng như về mặt kỹ thuật giải quyết các loại vết thương đa dạng này.

Theo hồi ký 1992 của bác sĩ Trương Công Trung khi đó là sinh viên Y4 thì bác sĩ Tùng rất có tài tổ chức cứu chữa. Khi đứng đầu kíp trực, ông phân loại các vết thương nhanh chóng và chính xác, cử từng người giải quyết từng vết thương phù hợp với năng lực của họ, kèm sự hướng dẫn cần thiết. Cuối cùng, ông dành rất nhiều thời gian tự mổ những trường hợp khó nhất. Vai trò của ông càng lớn khi Nhật làm đảo chính, số thương binh và nạn nhân tăng lên nhiều.

Sự thực lúc đó, việc cứu chữa các vết thương chiến tranh, đối với các bác sĩ là một điều hoàn toàn mới lạ, chưa có kinh nghiệm. Dịp cứu chữa nạn nhân ở khu Đấu Xảo giúp cho các bác sĩ ngoại khoa biết cách cử các bác sĩ giỏi ra chọn lọc và phân loại vết thương, tổ chức nơi tiếp nhận bệnh nhân để sơ cứu ban đầu, cách chống choáng và tổ chức sinh viên cáng thương về cơ sở điều trị và triển khai các bàn mổ, phân loại những trường hợp mổ theo thứ tự trước sau. Cuối cùng là việc theo dõi săn sóc những trường hợp nặng sau mổ. Dịp này, ngoài những kinh nghiệm thu được về tổ chức khi có chiến thương hàng loạt, một bài học sâu sắc về chuyên môn thu hoạch được là: tuyệt đối không khâu kín thì đầu những vết thương chiến tranh, không khâu kín những mỏm cắt cụt, rạch rộng các vết thương nhiễm trùng. Lần đảo chính ngày 09 tháng 3 năm 1945, Nhật chiếm nhà thương Đồn Thuỷ, Pháp phải đưa tất cả thương binh của họ về bệnh viện Phủ Doãn để điều trị. Đây là lần thứ ba, các thầy thuốc ngoại khoa Việt Nam làm việc tại đây được nhìn thấy những vết thương do đạn thẳng, do đại bác và những vết thương đã nhiễm trùng. Kinh nghiệm thu hoạch được lần này là cách xử trí các vết thương chiến tranh đã nhiễm trùng. Cuối cùng, là những kinh nghiệm của bác sĩ Hoàng Đình Cầu và Nguyễn Thúc Tùng trong cuộc Nam Tiến phục vụ điều trị cấp cứu các vết thương chiến tranh đã được phổ biến và viết thành tài liệu.

Đây cũng là hành trang đầu tiên để thầy trò trường Y Dược lên đường phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ngày 15 tháng 8 Nhật tuyên bố đầu hàng phe Đồng Minh vô điều kiện. Chỉ 4 ngày sau (19 tháng 8) khởi nghĩa cướp chính quyền đã nổ ra tại Hà Nội, nói lên sự chuẩn bị kỹ càng từ trước và khả năng chớp thời cơ “ngàn năm có một” (theo đúng nghĩa đen). Và chỉ một tuần sau, làn sóng khởi nghĩa đã lan đến tận Nam Bộ. Chính phủ Lâm thời Việt Nam đã được khẩn trương thành lập và chỉ hai tuần sau (ngày 2 tháng 9) kịp ra bản Tuyên ngôn Độc lập trong cuộc mít tinh khổng lồ tại vườn hoa Ba Đình, công bố với thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, trước khi quân Đồng Minh kịp vào Đông Dương làm nhiệm vụ công khai là tước khí giới quân Nhật, còn nhiệm vụ không công khai là phục hồi sự cai trị của thực dân Pháp.

Tại Bắc Bộ, cuối tháng 8-1945, 20 vạn quân Tàu (của Tưởng Giới Thạch) vào tước vũ khí quân đội Nhật, mang theo tàn dư thoái hoá của Việt Nam Quốc Dân Đảng, với âm mưu cướp lại hoặc chia sẻ quyền lãnh đạo với Việt Minh. Chỉ cung cấp cái ăn cho đội quân ô hợp này đã là điều nan giải của chính quyền cách mạng. ở Nam Bộ, chỉ vài ngày sau khi ta cướp chính quyền ở Sài Gòn, thực dân Pháp núp sau liên quân Anh- ấn (vào tước khí giới quân Nhật) đã khởi đầu cuộc xâm lược với âm mưu chớp nhoáng chiếm lại các tỉnh từ vĩ tuyến 16 trở vào. Ngày 23.9.1945 với những vũ khí thô sơ cùng với lòng yêu nước vô bờ, người dân Nam Bộ đã đứng dậy kháng chiến, bảo vệ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của một đất nước độc lập. Tại các thành phố và đô thị quan trọng vẫn còn sáu vạn quân Nhật với nguyên vẹn vũ khí; tuy đã đầu hàng, nhưng sẵn sàng theo lệnh quân Đồng minh chống lại cách mạng nước ta. Một số tàn quân Pháp ẩn náu ở Lào và Vân Nam trước đây bắt đầu trở lại đánh chiếm Lai Châu, nhẩy dù xuống Đông Triều, Thừa Thiên, Quảng Nam... Bọn tàn dư Quốc Dân Đảng nhân cơ hội đã cướp chính quyền ở một số địa phương như Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Vĩnh Yên, Lạng Sơn, Hải Ninh... để làm áp lực cho việc tranh dành quyền lực với chính phủ lâm thời.

Trong tình hình khó khăn và phức tạp đó, giáo sư Hồ Đắc Di được bổ nhiệm làm hiệu trưởng, và ông đã cùng với các trí thức thân cận và yêu nước hướng toàn trường đại học Y Dược vào sự nghiệp bảo vệ nền độc lập của đất nước...

XEM BẢN ĐẦY ĐỦ




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa