Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Triển vọng công nghệ cứu chữa ngoại khoa cho thương binh


 Triển vọng công nghệ cứu chữa ngoại khoa cho thương binh

GS. Xamôkhơvalôp I.M 
TSKH. Bađalôp V.I và CS 

Nguyên tắc cứu chữa thương binh đúng nơi, đúng thời gian tối ưu đã được nhiều nước công nhận. Quân y Liên bang Nga đã chứng minh nguyên tắc trên bằng kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh gần đây lần đầu tiên đã áp dụng rộng rãi phương pháp tạm thời nối mạch nhân tạo đối với tổn thương mạch máu lớn, cố định ngoài bằng dụng cụ Ilizarov đối với gãy xương chi do hỏa khí, phẫu thuật nội soi vết thương bụng, ngực, vận chuyển thương binh các tuyến bằng đường không...

Trong thập kỷ qua, quân y Mỹ đã có cuộc cách mạng trong cứu chữa thương binh ở các tuyến, tuyến trước bệnh viện. Đã sử dụng các loại garô cầm máu kiểu mới, các loại thuốc cầm máu tại chỗ, các loại phương tiện mới để truyền dịch, sưởi ấm cho thương binh trong quá trình vận chuyển. Đã áp dụng những quan niệm mới trong cứu chữa thương binh (hồi sức giảm huyết áp trước bệnh viện, phẫu thuật nhiều giai đoạn, hồi sức nhiều giai đoạn).

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cứu chữa thương binh có chất lượng và hiệu quả, cần tiếp tục áp dụng kinh nghiệm đã có và nghiên cứu xu hướng phát triển của ngoại khoa dã chiến, triển vọng sử dụng công nghệ mới.

1. CỨU CHỮA TRƯỚC BỆNH VIỆN.

1.1. Cầm chảy máu ngoài tạm thời:

Ngoài những phương tiện hiện có, đang nghiên cứu và thử nghiệm các phương tiện công nghệ cao hiệu quả hơn như garô điện tử bơm khí tự động, thuốc cầm máu tại chỗ Hemostop và nhiều loại khác, kẹp ép tạm thời động mạch nách, đùi, khoeo.

Đang nghiên cứu có kết quả “garô siêu ẩm” - một thiết bị tạm thời cầm máu từ xa đối với tổn thương mạch máu chi, bụng, chậu.

1.2. Cầm chảy máu trong tạm thời:

Quần bơm khí ép chống sốc đang được sử dụng để cầm chảy máu trong ổ bụng, chậu. Tuy nhiên đã có loại băng chậu chống sốc để cầm chảy máu trong chậu đơn giản và có hiệu quả hơn, không gây biến chứng do thiếu máu của quần bơm khí ép chống sốc. Đang thực nghiệm cầm chảy máu trong tạm thời bằng cách đưa vào ổ bụng các loại thuốc cầm máu.

1.3. Khắc phục ngạt thở cấp:

Sau chảy máu, nguy cơ đe dọa tính mạng thương binh là ngạt thở cấp do tắc đường thở. Đang nghiên cứu hoàn thiện bộ dụng cụ để mở khí quản qua màng nhẫn giáp, phổ biến đặt nội khí quản ở đơn vị, sử dụng mặt nạ đơn giản chống ngạt thở.

1.4. Khắc phục tràn khí phế mạc kín:

Để khắc phục tràn khí phế mạc kín do vết thương xuyên ngực và chấn thương ngực kín, quân đội khối quân sự Bắc Đại Tây Dương trang bị cho y tá đơn vị troca giảm áp dùng một lần. Ở tuyến cứu chữa đầu tiên do bác sĩ có trang bị phương tiện dẫn lưu ổ phế mạc vô trùng dùng một lần giống như trang bị của quân y Nga.

1.5. Khắc phục tràn khí phế mạc mở:

Trước đây đã sử dụng bao gói băng cá nhân và 6 lớp gạc để băng kín tràn khí phế mạc mở. Hiện nay đã trang bị băng keo để phủ kín vết thương gây tràn khí phế mạc mở. Đồng thời để phòng biến chứng tràn khí phế mạc kín cần phải sẵn sàng để dẫn lưu ổ phế mạc.

1.6. Phát hiện tổn thương từ xa, kịp thời đưa thương binh ra khỏi trận địa:

Trong chiến đấu, các loại vết thương đe dọa tính mạng thương binh là chảy máu ngoài, chảy máu trong, tràn khí phế mạc kín và hở gây ngạt thở. Cấp cứu đầu tiên các loại vết thương này cần tiến hành trong phạm vị 10 phút sau khi bị thương (tối ưu trong những giây đầu tiên). Do đó cần quan tâm áp dụng và hoàn thiện “monitor cá nhân theo dõi tình trạng quân nhân” để xác định từ xa tình trạng tổn thương và quyết định sử dụng robot đưa thương binh ra khỏi trận địa để cấp cứu. Trong tương lai, với “thiết bị vận chuyển đa chức năng” có thể đồng thời theo dõi tình trạng tổn thương và đưa thương binh ra khỏi trận địa. Sau khi khắc phục hậu quả đe dọa tính mạng, thương binh được vận chuyển bằng trực thăng về tuyến cứu chữa chuyên khoa (tuyến 3) trong 1-2 giờ.

1.7. Bổ sung mất máu cho thương binh và khắc phục hậu quả mất máu:

Nghiên cứu về sinh bệnh lý sốc chấn thương cho thấy 3 nguyên nhân (rối loạn đông máu, nhiễm axit, hạ thân nhiệt) dẫn đến hệ thống đông máu mất bù gây tử vong đối với thương binh mất máu nhiều. Các tuyến quân y cần chú ý khắc phục những yếu tố trên.

Hiện nay tại các tuyến trước bệnh viện, quân y nước ngoài thường sử dụng thiết bị riêng để truyền nhanh qua đường tĩnh mạch hoặc qua xương các loại dung dịch thay plasma. Tuy nhiên, ở tuyến trước bệnh viện không nên truyền số lượng lớn các loại dung dịch tinh thể và dung dịch keo vì sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn đông máu do các yếu tố đông máu bị pha loãng.

Đề phòng rối loạn đông máu, theo nhiều công trình nghiên cứu nên truyền kết hợp các thành phần của máu với dung dịch thay plasma. Trong trường hợp phải truyền nhiều máu, tốt nhất nên truyền 3 thành phần ngang nhau: plasma tươi ướp lạnh, hồng cầu, tiểu cầu ngay trong giai đoạn trước bệnh viện.

Điều trị rối loại đông máu bằng axit Tranexamic (ức chế mạnh hiện tượng tan sợi huyết) liều 15-20 mg/kg thể trọng. Phòng giảm nhiệt bằng túi giữ ấm cho thương binh trong quá trình vận chuyển.

1.8. Cố định để vận chuyển:

Hiện nay ở trong nước cũng như ngoài nước, chưa có phương tiện tối ưu để cố định vận chuyển thương binh. Những loại nẹp cũ được trang bị trong quân đội Liên bang Nga như nẹp Cramer, nẹp Diterich, các loại nẹp sử dụng trong thời bình như nẹp bơm khí, nẹp chân không kèm theo bơm hút... không sử dụng nữa.

Để hoàn thiện cố định, vận chuyển cần có những biện pháp tổng hợp. Ở tuyến bổ sung cấp cứu sử dụng các loại nẹp bằng nhựa như đã sử dụng trong chiến tranh ở Afghanistan các loại đai (nịt) để cố định chi trên vào thân người, cố định chi dưới bị thương vào chi lành. Ở tuyến cứu chữa đầu tiên do bác sĩ cần những loại nẹp tháo lắp được để thay các loại nẹp tạm thời ở tuyến trước. Loại nẹp bằng nhựa nên cứng nhanh sử dụng một lần, các loại nẹp bằng vật liệu mới cũng được chú ý. Cần trang bị các loại nẹp cố định gãy đốt sống cổ, ngực, lưng.

1.9. Giảm đau cho thương binh:

Buprenorphine trong túi cấp cứu đầu tiên không có tác dụng giảm đau nhanh và hiệu quả. Ống tiêm tự động không đưa được hết thuốc giảm đau vào cơ thể cần được cải tiến. Theo kinh nghiệm nước ngoài, đã sử dụng có hiệu quả thuốc giảm đau Fentanyl Citrat qua đường dưới lưỡi, liều 400-800 mcg. Trong các cuộc diễn tập với quân y nước ngoài, đã bỏ không sử dụng thuốc giảm đau Tringa.

1.10. Phòng nhiễm khuẩn vết thương:

Doxycilline, kháng sinh bán tổng hợp của Tetracyclline trong túi cấp cứu đầu tiên được sử dụng để phòng chống vũ khí sinh học. Hiệu quả diệt khuẩn của thuốc này không bằng thuốc diệt khuẩn Moxifloxacine thuộc nhóm Fluoroquinolone được sử dụng ở nước ngoài với liều 400 mg/ngày.

2. TUYẾN BỆNH VIỆN.

2.1. Chiến thuật cứu chữa ngoại khoa nhiều giai đoạn (damage control surgery):

Phần lớn thương binh nặng do chảy máu trong kéo dài và do tổn thương khác đe dọa tính mạng sẽ tử vong nếu không được cứu chữa đầu tiên do bác sĩ. Một trong những biện pháp giảm tử vong là tiếp cận cứu chữa ngoại khoa gần trận địa và áp dụng chiến thuật cứu chữa ngoại khoa nhiều giai đoạn. Mục đích của chiến thuật này là thu hẹp phạm vi phẫu thuật lần đầu (phẫu thuật tối khẩn cấp thu hẹp), sau đó phục hồi các bộ phận tổn thương cho đến khi ổn định các chức năng quan trọng của cơ thể. Chiến thuật này được áp dụng đối với những thương binh trước khi phẫu thuật có tình trạng không ổn định hoặc tình trạng không ổn định này sẽ nặng lên trong quá trình phẫu thuật phức tạp. Chiến thuật này được tiến hành trong 3 giai đoạn: giai đoạn 1 phẫu thuật tối khẩn cấp thu hẹp, giai đoạn 2 điều trị tích cực cho đến khi ổn định các chức năng quan trọng của cơ thể, giai đoạn 3 phẫu thuật lần sau để phục hồi các tổn thương. Chiến thuật có chỉ định để cứu tính mạng thương binh do tình trạng nặng không đủ sức chịu đựng đầy đủ phạm vi cứu chữa tối khẩn cấp. Các phẫu thuật tối khẩn cấp còn lại được thực hiện ở tuyến bệnh viện (tuyến 3).

Tuy nhiên, hiện nay mục đích và giới hạn áp dụng chiến thuật này được mở rộng. Chiến thuật này còn được chỉ định áp dụng ở tuyến cứu chữa chất lượng đối với thương binh nặng mà tình trạng sinh lý còn bù trừ được nhưng tình huống quân sự, quân y không cho phép thực hiện đầy đủ phạm vi cứu chữa (thương binh về ồ ạt, thiếu nhân lực, phương tiện...). Sau đó thương binh được vận chuyển về tuyến bệnh viện để tiếp tục phẫu thuật.

Để áp dụng chiến thuật này, bác sĩ quân y cần được huấn luyện về phẫu thuật thu hẹp, bảo đảm gây mê, hồi sức và điều trị tích cực. Bác sĩ chỉ huy quân y cũng cần nắm chỉ định áp dụng chiến thuật. Trong trường hợp thương binh về đông mà chưa có điều kiện vận chuyển về tuyến sau, cần có lực lượng quân y tăng cường.

 http://www.yhqs.vn/Image/Editor/Img/So%20297/NN1.png

Diễn tập cứu chữa thương binh tại Bệnh viện dã chiến dự bị động viên tỉnh Bình Định

2.2. Công nghệ cao trong ngoại khoa dã chiến:

Cùng với chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn được áp dụng rộng rãi trong ngoại khoa dã chiến, còn áp dụng các phương pháp điều trị công nghệ cao. Các loại phẫu thuật điều trị, chẩn đoán như soi lồng ngực, soi ổ bụng trước đây thường được thực hiện trong các bệnh viện chuyên khoa thời bình, ngày nay được thực hiện theo chỉ định trong các bệnh viện quân đội. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính được trang bị ở bệnh viện tuyến 3 cho phép thực hiện các phẫu thuật ít xâm lấn, công nghệ cao.

Ở nước ngoài, lần đầu tiên trong chiến tranh Iraq đã tiến hành các phẫu thuật nội mạch. Trong vài năm gần đây, 1/3 tổn thương mạch máu lớn được phẫu thuật bằng phương pháp ít xâm lấn. Đã có nhiều tiến bộ trong điều trị vết thương hỏa khí, vết thương do mìn. Công nghệ dẫn lưu chân không đã bảo đảm phủ kín vết thương ở các vị trí khác nhau, tạm thời đóng kín ổ bụng sau khi làm sạch ổ bụng do viêm phúc mạc.

2.3. Y học từ xa và phẫu thuật từ xa:

Phần lớn các phẫu thuật viên trẻ trong chiến tranh, nhất là trong thời kỳ đầu chiến tranh ít có kinh nghiệm trong điều trị bệnh lý ngoại khoa. Nhiệm vụ của y học từ xa và phẫu thuật từ xa là hỗ trợ tư vấn bởi các chuyên viên có kinh nghiệm cho bác sĩ đơn vị có thể thực hiện các phẫu thuật phức tạp. Phẫu thuật từ xa được thực hiện bởi robot phẫu thuật Da Vinci. Bác sĩ phẫu thuật ở một bệnh viện hậu phương, còn robot phẫu thuật được bố trí gần khu vực chiến đấu.

Phẫu thuật từ xa được kết hợp với tư vấn từ xa để rút ngắn thời gian chẩn đoán và xử trí. Phẫu thuật từ xa được thực hiện đồng thời với chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn để cứu sống thương binh và ổn định tình trạng thương binh trong quá trình vận chuyển.

2.4. Cải tiến đào tạo phẫu thuật viên:

Cứu chữa thương binh hiện nay đòi hỏi nâng cao trình độ nghiệp vụ của phẫu thuật viên, rèn luyện nhân cách, tư duy sáng tạo, chủ động và quyết đoán. Do đó trong hệ thống đào tạo phẫu thuật viên cần áp dụng công nghệ thông tin và các phương pháp sư phạm khác. Tổ chức diễn tập quân y trên máy tính, thực tập trên mô hình bệnh nhân, áp dụng phương pháp mô phỏng trong huấn luyện góp phần nâng cao chất lượng thực hành.

2.5. Đăng ký thương binh:

Tại Học viện Quân y Kirov đã đăng ký nạn nhân trong vụ thảm họa ở nhà máy điện nguyên tử Tchernobyl. Tất cả thương binh được đăng ký vào phiếu riêng để xử lý thống kê. Phiếu thống kê là cơ sở tư liệu về bệnh lý ngoại khoa tại trận địa và kết quả cứu chữa.

Sử dụng công nghệ thông tin để đăng ký thương binh có thể xây dựng hệ thống thông tin về công tác cứu chữa, nâng cao hiệu quả chỉ huy quân y, chất lượng điều trị, hồi phục chức năng, bảo vệ quyền lợi xã hội cho thương binh.

Trong tương lai, áp dụng thông tin y học cho từng cá nhân và bệnh án điện tử sẽ góp phần hoàn thiện việc đăng ký thương binh.

3. KẾT LUẬN.

- Triển vọng công nghệ cứu chữa ngoại khoa cho thương binh phần lớn phụ thuộc vào giai đoạn trước bệnh viện: trang bị phương tiện cá nhân công nghệ cao, thiết bị chuyên môn dùng một lần để khắc phục hậu quả đe dọa tính mạng thương binh trong việc cấp cứu và cứu chữa đầu tiên do bác sĩ.

- Trong thập kỷ gần đây, chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn đã nâng cao có ý nghĩa chất lượng cứu chữa chuyên khoa. Thu hẹp phạm vi cứu chữa trong giai đoạn 1 của chiến thuật, tạo điều kiện để áp dụng robot phẫu thuật từ xa.

- Cải tiến chất lượng hiệu quả đào tạo phẫu thuật viên, áp dụng các thành tựu về sư phạm và công nghệ thông tin. Tổng kết, phân tích kết quả cứu chữa ngoại khoa cho thương binh bằng hệ thống đăng ký thương binh.

    Tạp chí Y học Quân sự Liên bang Nga, 6/2013

Lược dịch: PGS. TRỊNH VĂN LUẬN

Nguồn : yhqs.vn

Chuyển website: quandany.com

PHẠM NGỌC ĐÍNH - VĂN HỮU NHÂN

 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa