Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG 2 Bước đầu tìm hiểu Học thuyết Âm Dương – Ngũ hành


 

HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG 2
Bước đầu tìm hiểu Học thuyết Âm Dương – Ngũ hành

  

           Văn hoá thần bí phương Đông là một kho biến ảo thần kỳ. Trung Quốc là một trong những cái nôi văn minh ở phương Đông thời kỳ Cổ - Trung đại. Cùng với những phát minh có tính chất vạch đường lối trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên, y học, thiên văn học… Nơi đây còn là quê hương của nhiều hệ thống triết học lớn, trong đó, có học thuyết Âm Dương – Ngũ hành.

Thuyết Âm dương – Ngũ hành ra đời rất sớm ở Trung Quốc, từ TK 2 đến TK 1 TCN. Sự ra đời của học thuyết đã đánh dấu bước tiến bộ trong tư duy khoa học đầu tiên của người xưa đối với sự sinh sôi, biến hoá của vũ trụ. Từ khi học thuyết này ra đời, tư duy của người Trung Quốc đã hình thành những quan điểm duy vật biện chứng. Vì vậy, việc nghiên cứu học thuyết này, giúp chúng ta nhận thức sâu hơn những giá trị tích cực của nó tới đời sống con người.

 

1. Khái niệm và ứng dụng của triết lý Âm dương

Âm dương là một khái niệm trừu tượng phản ánh về hai mặt, hai thế lực luôn đối lập nhau, nhưng lại luôn thống nhất với nhau, cùng phải dựa vào nhau để tồn tại và phát triển.

 

Người xưa cho rằng Vũ trụ khởi đầu từ một điểm cực nhỏ là điểm không, gọi là Cơ. Trong Cơ xuất hiện hai yếu tố: Yếu tỗ Rỗng gọi là Âm, yếu tố đặc gọi là Dương. Hai yếu tố này hoạt động tuân theo một quy luật nhất định, đó là, tự Âm lúc nào cũng nhận cái nó thiếu, còn tự Dương lúc nào cũng cho cái nó thừa. Do đó, trong Cơ sẽ hình thành hai loại lực, đó là lực hút và lực đẩy, dẫn đến sự biến đổi mà người xưa gọi là “Âm Dương tương thôi nhi sinh biến hoá”. Sự biến hoá này luôn tuân theo một nguyên tắc là: Dương cho Âm nhận, tức là cả Âm và Dương đều làm căn bản cho nhau trong một phạm vi.

 

Sự chuyển hoá của Âm, Dương được biểu hiện: khi Dương đi về Âm thì Dương tiêu, Âm trưởng, khi Âm đi về Dương thì Âm tiêu, Dương trưởng. Giữa chu kỳ tiêu trưởng sẽ tồn tại một điểm Cực, điểm Cực này do sự vận động của Âm Dương tạo nên. Đó là: cực tiêu thì trưởng, cực trưởng thì tiêu, làm cho vũ trụ phát sinh và phát triển không ngừng.

 

Trong thế giới tự nhiên, mọi vật, mọi sự việc đều tồn tại hai mặt hai mặt Âm Dương đối lập nhau. Vì là đối lập nên có mâu thuẫn, mâu thuẫn của Âm Dương là mâu thuẫn căn bản của sự vật. Nhưng Âm Dương lại luôn thống nhất với nhau, chính sự thống nhất này mới dẫn đến sự biến hoá Âm Dương để sinh ra vạn vật. Cho nên có thể nói rằng sự đối lập và thống nhất của Âm Dương là một quá trình vận động xuyên suốt của vạn vật. 

 

Như vậy, Âm dương là một phạm trù triết học. Hai mặt âm dương ở trong một sự vật thống nhất, tức là bất cứ một sự vật nào trên thế giới đều có thể phân chia hai mặt âm dương. Ví dụ quyển sách, mặt trước là dương, mặt sau là âm; bên ngoài là dương, bên trong là âm. Nếu như mở quyển sách ra, thì trang bên trong tiếp nhận ánh sáng là dương, mặt trước mặt sau lại trở thành âm.

 

Cũng như thân thể con người, xuất phát từ phân biệt tính chất: nam là dương, nữ là âm; xuất phát từ phân biệt trên thân thể: nửa thân trên là dương, nửa thân dưới là âm; bên ngoài là dương, nội tạng là âm; lưng là dương, bụng là âm; xương thịt cố định là âm, khí huyết lưu động là dương. Phần xương thịt đối ứng: xương là âm, thịt là dương. Khí huyết đối ứng: huyết là âm, khí là dương, khí là thầy của huyết, thúc đẩy huyết lưu hành. Da thịt đối ứng: da là dương, thịt là âm. Da lông đối ứng: da là âm, lông là dương. Da không tồn tại, thì lông cũng không mọc được.

 

Như vậy, là nói âm dương không phải cố định, nó có thể chuyển đổi theo điều kiện ngoại giới chuyển đổi. Cho nên Lão Tử nói: “vạn vật phụ âm nhi bão dương” (Đạo đức kinh, Chương 12) - (muôn vật đội âm và bồng dương). Âm dương có thể chuyển đổi cho nhau, dựa vào nhau tồn tại. Không có âm, dương không thể tồn tại; không có dương thì âm cũng không thể tồn tại. Cũng giống như không có trời thì không có đất và ngược lại. Đó là qui luật phát triển, biến đổi sự vật. Âm dương hai mặt mâu thuẫn đối lập, thống nhất, cái này mất đi (tiêu) cái kia lớn lên (trưởng); cái này tiến, cái kia lui, cuối cùng ở trong trạng thái cân bằng mới có thể duy trì sự vật biến đổi phát triển bình thường.

 

Người Việt Nam từ lâu đã nhận thức về triết lý âm dương ở nhiều lĩnh vực. Do sống trong hoàn cảnh của nghề trồng lúa nước, cho nên nhân dân ta tiếp xúc với những cặp âm dương đối lập, như:

 

Nắng -- mưa (Nắng không ưa, mưa không chịu)

 

Đất -- trời (Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời)

 

Sương -- gió (Dầm sương dãi gió,)...

 

Bản thân cây lúa cũng là: gốc ngâm trong bùn nước (âm), ngọn phơi trong nắng gió (dương). Đến độ nảy bông thì hoa lúa chỉ phơi màu vào giờ Ngọ (giữa trưa, lúc dương khí thịnh) và giờ Tí (nửa đêm, lúc âm khí thịnh) để tiếp thu đủ khí âm dương trời đất mà biến thành hạt lúa.

 

Người Việt đã nhận thức được số chẵn là âm, số lẻ là dương. Lê Quí Đôn phân biệt tre đực tre cái bằng cách xem cành thứ nhất ở gốc: Nếu có 2 cành là tre cái, còn nếu một cành là tre đực.

 

Ngay trong cách lựa chọn vật tổ của người Việt cũng biểu hiện đặc trưng quân bình âm dương. Từ thời tiền sử, các dân tộc trên thế giới đã chọn những con vật có liên quan mật thiết đến đời sống con người làm biểu tượng, chẳng hạn, Ai Cập chọn con Bò, Pháp chọn con Gà trống, Nga và Thụy Sĩ chọn con Gấu, Mỹ chọn con ó, dân Bách Việt ta tự hào là con Rồng cháu Tiên và chọn Tiên - Rồng làm biểu tượng, thể hiện dấu vết tư duy âm dương của thời xa xưa.

 

Đặc trưng quân bình âm dương lại được người Việt Nam sử dụng trong ẩm thực: đồ ăn âm tính thường kèm theo gia vị dương tính - [ăn ốc luộc (âm) đi kèm với nước chấm gừng ớt (dương)].

 

Triết lý quân bình âm dương không chỉ cho người sống mà cả cho người chết: trong những ngôi mộ cổ ở Lạch Trường (Thanh Hóa) có niên đại vào thế kỷ III trước Công nguyên được gióng theo hướng Nam - Bắc, các đồ vật bằng gỗ (dương tính) được đặt ở phía Bắc (âm tính) và ngược lại, các vật bằng gốm (âm tính) được đặt ở phía Nam (dương tính)(3).

Ở Việt Nam mọi thứ thường đi đôi theo nguyên tắc âm dương đối ứng, hài hòa: Ông đồng bà cốt, con Rồng cháu Tiên... Khái niệm âm dương thể hiện ở mọi phương diện: xin âm dương (gieo hai đồng tiền sao cho một sấp một ngửa), chợ âm dương (chợ họp vào chập tối); ngói âm dương (ngói lợp nhà kiểu viên ngửa viên sấp) v.v… Cả những khái niệm vay mượn đơn lẻ, khi vào Việt Nam chúng được nhân đôi thành cặp: ở Trung Hoa mai mối chỉ là một ông tơ hồng, vào Việt Nam được biến thành ông tơ - bà nguyệt. ở ấn Độ chỉ có Phật ông, vào Việt Nam xuất hiện Phật ông - Phật bà (ở một số nơi, người Mường gọi là bụt đực - bụt cái).

 

Thậm chí cả trong ca dao, thành ngữ cũng phản ánh qui luật “trong âm có dương, trong dương có âm” khá rõ, như: trong khổ có sướng, trong họa có phúc, trong rủi có may...

 

Theo qui luật âm dương chuyển hóa (âm sinh dương, dương sinh âm), người Việt Nam lại có các thành ngữ: Tre già măng mọc; Trèo cao ngã đau; bán bò tậu ễnh ương...

 

Ở người Việt Nam, triết lý âm dương không chỉ thể hiện qua nhận thức, mà còn được sử dụng cụ thể trong đời sống con người. Như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã vận dụng triết lý âm dương vào công việc chữa bệnh. Ông nói: “Nghề làm thuốc đâu có thể vượt ra ngoài nguyên lý âm dương ngũ hành mà cứu chữa được những bệnh nguy nan” (Tiểu dẫn Y gia quan miện ); “Lý của âm dương là lý của y” (Luận về y ý và y lý). Qui luật quân bình âm dương cũng được ông vận dụng vào việc chữa bệnh. Ông nói: “Dương làm hại âm thì tinh huyết khô cháy, âm làm hại dương thì thần khí lặng tắt. Phàm mọi bệnh sinh ra không một bệnh nào không phải vì âm dương hại nhau mà mất điều hòa (Y hải cầu nguyên); “Phàm trăm bệnh của người ta không gì là không do âm dương chênh lệch nhau, điều đó quan hệ đến sống chết” (Y hải cầu nguyên); “âm dương cốt thăng bằng, không nên thiên lệch về một bên. Thủy hỏa trong thân thể của người ta cũng như là cán cân, nếu bên này nặng thì bên kia nhẹ, nếu bên này nhẹ thì bên kia nặng. Phương pháp chữa bệnh là, nếu bên kia nặng thì bổ cho bên này, nếu bên này nặng thì bổ cho bên kia, quyết không để sai nhau một ly thì mới thăng bằng” (Y hải cầu nguyên).

 

Hay là Nguyễn Hữu Trác cho rằng khi chữa bệnh phải chú ý đến thời tiết, “không nên quá câu nệ vào thuyết vận khí vì bệnh phát sinh do cả nguyên nhân bên ngoài, cảm nhiễm tùy theo thời tiết” (Vận khí kí điển); “Nói đến thời khí thì phải tùy cơ ứng biến, tức là trước phải theo khí hậu từng năm, nếu năm ấy mưa nhiều thì bệnh phần nhiều do thấp, phải dùng loại thuốc cay, đắng, ấm...” (Vận khí ký điển).

 

Qua thực tế, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác biết rất rõ, cơ thể con người cần phải thích hợp với khí hậu bốn mùa biến đổi. Bốn mùa biến đổi tức là âm dương chuyển hóa. Bởi vì một năm có bốn mùa, bắt đầu là mùa xuân, rồi đến các mùa: hạ, thu, đông. Mùa xuân, mùa thu khí hậu ôn ấm, khí đất bay nổi, dương sinh âm trưởng (lớn lên), muôn vật đều nảy sinh. Đến mùa thu, mùa đông, khí hậu rét lạnh, khí trời chìm lắng, dương sát âm tàng, muôn vật đều tiềm ẩn. Khí tiết hết thăng lại giáng, hết giáng rồi thăng như một vòng tròn không có đầu mối, chuyển hóa muôn vật. Khí trời như vậy, con người cũng ứng với nó. Cái mới thay thế cái cũ, sinh sinh hóa hóa không ngừng. Khí hậu bốn mùa thay đổi, mỗi mùa đều có đặc điểm khác nhau, do đó, ngoài bệnh tật nói chung, còn nảy sinh một số bệnh do thời tiết, như mùa xuân mọi người dễ mắc bệnh cảm mạo, tỷ lệ trẻ em viêm phổi cũng đột nhiên tăng lên cao. Viêm não phần nhiều nảy sinh ở mùa hè. Bệnh viêm phế quản mạn tính phần nhiều phát sinh ở mùa thu, mùa đông...

 

Tất cả những ví dụ nêu trên càng thể hiện sâu sắc các qui luật của triết lý âm dương. Nó không phải chỉ là hai mặt đối lập âm dương của một sự vật, mà là thể hiện tất cả sự đối lập song phương. Tất cả sự vận động biến hóa của muôn vật đều dựa vào sự đối lập biến đổi âm dương. Sự đối lập thống nhất, vận động biến hóa của âm dương quyết định sự ra đời, phát triển và biến đổi của muôn vật. Hết thảy sự vật của giới tự nhiên và xã hội đều liên hệ với nhau, hết thảy sự vật đều đang tồn tại mâu thuẫn đối lập, sự vật phát triển, vận động, biến hóa ở trong sự đối lập thống nhất.

 

Âm dương đối lập, trái ngược nhau, nhưng lại thống nhất, cùng nhau sinh thành. Âm dương tách rời nhau không thể phát triển tiến hóa. Cũng như nói, thực vật là âm, động vật là dương. Động vật không thể tách rời thực vật mà tồn tại được, đó là điều rõ ràng và dễ thấy. Động vật ăn cỏ, như bò, dê không có thực vật thì không sinh tồn. Ngoài vấn đề thức ăn, thực phẩm còn có không khí, động vật cần có khí ô-xy, và khí ô-xy chính là sản phẩm của tác dụng quang hợp, không có thực vật chế tạo khí ô-xy thì hết thảy động vật cũng sẽ tắc thở mà chết. Thực vật mọc ở trên đất tự sinh, tự diệt tựa hồ như không liên quan đến động vật. Nhưng trong thực tế, thực vật cũng rất cần động vật, thể khí CO2 của động vật nhả ra chính là tác dụng quang hợp của thực vật cần đến.

 

Cơ thể con người, bên trong là âm, bên ngoài là dương, trong ngoài đều vững bền tức là âm dương cân bằng. Nhưng thân thể con người là một thể sống hoạt tính, trong đó có cơ năng phức tạp. Nó có thể chuyển hóa tinh bột thành chất béo, cũng có thể chuyển hóa mỡ thành lòng trắng trứng. Có người cho rằng ăn thịt mỡ sẽ béo phì, nhưng trong thực tế rất nhiều người không ăn thịt mỡ mà vẫn béo. Tất cả những điều đó, chứng minh do cơ thể ở bên trong con người quyết định. Chuyển hóa cần phải tiêu hao năng lượng, hơn nữa, chuyển hóa chỉ có thể chuyển hóa bộ phận dinh dưỡng, khiến nó đạt đến mức cân bằng tương đối. Đó là nói, thức ăn vào trong con người, chỉ cần phối hợp đều đặn, cơ thể con người chuyển hóa từng phần, sẽ thực hiện tương đối cân bằng. Nếu chỉ tính toán thức ăn vào cơ thể con người một cách máy móc, tức là hoàn toàn coi nhẹ công năng chuyển hóa cơ thể.

 

Ngay cả đến trạng thái động tĩnh của con người cũng cần đến cân bằng âm dương. Về mặt triết học, Đạo gia nhấn mạnh tĩnh, Nho gia coi trọng động, y học nhấn mạnh kết hợp động tĩnh. ở trong Luận hành, Biệt thông thiên, Vương Sung đã nói: “Cây cỏ mọc ở trên đỉnh núi cao, bị gió thổi lay động suốt ngày đêm không ngừng sẽ sinh trưởng rất chậm, không tốt tươi như cây cỏ mọc ở hang núi không có gió. Cũng đạo lý như thế, thân thể con người nếu như luôn luôn vận động, cần cù lao khổ không được nghỉ ngơi, thì làm sao có thể sống lâu được?”. Ở đây, Vương Sung phản đối luôn luôn vận động, phản đối vận động quá mức, phản đối mạch máu chuyển động quá độ ở trong cơ thể. Đồng thời, Vương Sung cho rằng mạch máu không thông, con người cũng không làm việc được. Ông nói: “Mạch máu bế tắc, con người lắm bệnh. Cho nên khí không thông, người khỏe mạnh cũng chết, vật tốt tươi cũng khô héo” (Luận hành, Biệt thông thiên). Hai phương diện liên hệ với nhau, như vậy có thể thấy, Vương Sung chủ trương vận động, nhưng phản đối vận động quá mức. Vương Sung chủ trương quan điểm động tĩnh kết hợp.

 

Theo quan niệm của người xưa, vũ trụ là một thái cực. thái cực sinh ra lưỡng nghi (âm dương), âm dương lại được sử dụng trong công việc quản lý. Ngày nay, khoa học hiện đại cũng cho rằng, nhà nước, xí nghiệp cho đến cá nhân đều là một thái cực hoàn chỉnh. Trong quản lý xí nghiệp, người quản lý và người bị quản lý làm việc với nhau, sản sinh quan điểm vận động đối lập nhau và bổ sung cho nhau, một vật này tiến tất phải có một vật khác lui mới có thể sản sinh trung hòa cân bằng. Người quản lý chỉ có nhận rõ nguyên lý thái cực, trong quá trình xử lý sự việc và quản lý người dưới mới có thể tự giác vận dụng hiện tượng tiến lui của dương và âm trong vòng thái cực. Không nên dùng lợi nhuận tối đa làm nguyên tắc duy nhất của việc quản lý kinh doanh, mà coi thường tính tự tôn và quan niệm giá trị của bản thân con người. Nên thừa nhận bất cứ ai cũng đều là một thái cực, bản thân nó dung hòa, đối xử với con người phải vì con người và có phân biệt ở giá trị kết quả lao động, trước sau duy trì tính tự tôn đó, khiến cho tổ chức tràn đầy hòa khí, giống như một gia đình, một sân khấu âm nhạc hài hòa. Phương thức tổ chức công nhân viên lại như gia đình, lấy hòa làm quý, phát huy năng lực chủ quan của công chức, có thể nói là phù hợp với học thuyết thái cực ở Kinh Dịch. Vì Kinh Dịch cho rằng, chỉ có thái cực hoàn chỉnh, mới có thể sinh sinh hóa hóa, phồn vinh thịnh vượng, cho nên điều gọi là hòa khí sinh ra của cải, chính là đạo lý này.

 

2. Khái niệm và ứng dụng của Ngũ hành

 

Học thuyết Ngũ hành cho rằng, thế giới vật chất trong Vũ trụ và trên Trái đất là do năm loại vật chất và dạng của vật chất cấu tạo thành. Năm loại vật chất đó được gọi tên là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Từ cấu tạo đến phát triển, biến hoá của vạn vật trên thế giới là do năm loại vật chất này không ngừng tác dụng với nhau mà có, chúng phản ánh sự ra đời và phát triển của vạn vật trong Vũ trụ.

 

Tính chất của Ngũ hành được quy định như sau:

Kim là các loại kim loại nói chung, có tính chất thanh tĩnh, cứng rắn và thuần khiết.

Mộc là các loại cây cối, thảo mộc, có tính chất mọc lên và phát triển.

Thuỷ là nước và khí lạnh, có tính chất hướng xuống dưới, xâm lấn, sâu xa và biểu hiện là bóng tối.

Hoả là lửa và khí nóng, có tính chất hướng lên trên, bồng bột và biểu hiện là ánh sáng (Hoả là một dạng của năng lượng, chứ không phải là vật chất).

Thổ là các loại đất đá nói chung, có tính chất tàng chứa và nuôi dưỡng vạn vật.

Trong năm loại Ngũ hành nêu trên thì hành Thổ là hành trọng tâm nhất, vì Thổ nuôi dưỡng Mộc, tàng chứa Kim, chứa đựng và hưỡng dẫn Thuỷ, lưu giữ Hoả.

 

Các nhà Dịch học cho rằng: Ngũ hành bắt đầu từ Thiên tượng, gồm các loại khí: Đan thiên, Kiềm thiên, Thương thiên, Tố thiên, Huyền thiên. Những khí này được dẫn truyền xuống mặt đất thành năm loại hành là: Thanh, Hoàng, Xích, Bạch, Hắc (màu Xanh, Vàng, Đỏ, Trắng, Đen), trong đó, Xanh đại diện cho hành Mộc ở phương Đông, Đỏ đại diện cho hành Hoả ở phương Nam, Trắng đại diện cho hành Kim ở phương Tây, Đen đại diện cho hành Thuỷ ở phương Bắc, Vàng đại diện cho hành Thổ ở Trung tâm.  

 

Khi đối chiếu Ngũ hành với bản đồ Địa lý khu vực Châu Á và biển Thái Bình Dương, ta dễ dàng nhận thấy rằng: Ở phương Đông là lục địa liền với biển cả, có gió biển mang theo hơi nước thổi vào đất liền, làm cho cây cối luôn xanh tốt, nên đại diện cho hành Mộc. Ở phương Nam là đường Xích đạo của quả đất, quanh năm nóng bức, nên đại diện cho hành Hoả. Ở phương Tây, khí hậu hanh khô, không có hơi nước, nhiều núi đá và sa mạc, nên đại diện cho hành Kim. Ở phương Bắc liền với Bắc Băng Dương, khí hậu lạnh lẽo, quanh năm băng giá, nên đại diện cho hành Thuỷ. Còn ở Trung tâm, khí hậu ôn đới, đại diện cho hành Thổ.

 

Nếu lấy khái niệm này để suy ra sự thay đổi của khí hậu bốn mùa trong một năm, ta thấy chúng có sự tương đồng, đó là Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thâu, Đông tàng, cũng tương đương với chu kỳ: Sinh, Thành, Phế, Huỷ của vạn vật.

 

Như vậy, Ngũ hành lấy hình tượng của các loại vật chất hoặc các dạng của năng lượng để so sánh, đối chiếu, phân loại vạn vật trên Trái đất và cả trong Vũ trụ, tức là đem tất các hiện tượng và vạn vật chia làm 5 loại, rồi quy vào Ngũ hành, sau đó, vận dụng quy luật Ngũ hành sinh khắc để giải thích và làm rõ các mối liên hệ, chuyển động và biến hoá của chúng. Quy luật sinh khắc của Ngũ hành chính là nhằm giải thích mối tương quan hết sức mật thiết của Năm loại vật chất và dạng của vật chất nêu trên.

 

Ngũ hành tương sinh: là hành này và hành kia có sự trợ giúp lẫn nhau, nuôi dưỡng nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau phát triển. Đó là: Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim.

 

Ngũ hành tương khắc: là hành này và hành kia có sự khống chế, làm hại lẫn nhau, kìm hãm sự phát triển của nhau, thậm chí còn huỷ diệt nhau, đó là:

Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim.

Tương sinh, tương khắc của Ngũ hành cũng giống như hai mặt của Âm, Dương không thể tách rời nhau của vạn vật. Không có sinh thì không có sự phát triển. Và tồn tại, không có khắc thì không có sự vận động, biến hoá và duy trì sự cân bằng trong quá trình phát triển của vạn vật trên Trái đất.

 

Ngũ hành có ứng dụng rất rộng. Các hành trong Ngũ hành là những khái niệm vừa cụ thể, vừa trừu tượng, chúng rất đa nghĩa.

Trong số các ý nghĩa này, về mặt văn hoá, đáng chú ý là hệ thống màu biểu trưng và vật biểu trưng theo Ngũ hành.

 

Về màu biểu, hai màu đen đỏ mang tính đối lập âm dương rõ rệt nhất nên ứng với hai hành Thuỷ - Hoả (hai phương Bắc – Nam). Hai màu xanh trắng cũng đối lập âm dương nhưng kém rõ rệt hơn, ứng với hai hành Mộc – Kim. Màu vàng ứng với hành Thổ ở trung tâm.

 

Về vật biểu, vật biểu cho phương Nam trong Ngũ hành là Chim; vật biểu cho phương Đông là Rồng; vật biểu cho phương Tây là Hổ; vật biểu cho phương Bắc là Rùa; vật biểu cho trung tâm là Người.

 

Trong truyền thống văn hoá dân gian Việt Nam, ta có thể gặp rất nhiều ứng dụng của Ngũ hành. Chẳng hạn, người Việt Nam trị tà ma bằng bùa có chỉ ngũ sắc, bằng tranh Ngũ Hổ; treo lá cờ hình vuông 5 màu theo Ngũ hành ở các lễ hội…

 

Tóm lại, người xưa đã nghiên cứu và ứng dụng triết lý âm dương – ngũ hành vào trong mọi lĩnh vực của đời sống, xem nó như là kim chỉ nam dẫn đường, như chiếc chìa khoá mở cánh cửa cho con người đi sâu vào tìm hiểu những quy luật phát sinh phát triển và tồn tại của vạn vật, để tìm hiểu những quy luật vận động, biến hoá của Vũ trụ và Trái đất. Đó là những quy luật phản ánh thế giới tự nhiên và xã hội, trong đó, có con người. 

 

Huy Hoàng

 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa