Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Mãi mãi biết ơn đồng chí Nguyễn Hải Thanh, người chính ủy đầu tiên của Cục Quân y


QĐND - Thứ Năm, 31/10/2013, 17:25 (GMT+7)

Đồng chí Nguyễn Hải Thanh (bí danh Nguyễn Văn Roanh), người Chính ủy đầu tiên của Cục Quân y, sinh ngày 15/12/1912 tại xã Thanh Bình, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo ở một vùng quê thuần nông, lại đông con, nên khi mới 16 tuổi, ông đã cùng với 3 người em ra Hải Phòng tìm việc làm kiếm sống. Những ngày đầu ra Hải Phòng, ông làm phụ thư ký ở bến Sáu Kho. Hằng ngày chứng kiến cuộc sống lao động nghèo khó, vất vả của nhân dân dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, ông đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng.

Từ năm 1933-1938, ông hoạt động trong phong trào thanh niên ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông bị mật thám Pháp tổ chức theo dõi ráo riết và đã 2 lần bị chúng bắt giam. Năm 1939, ông vượt ngục trốn lên Phú Thọ tiếp tục hoạt động cách mạng, lại bị bắt và bị giam giữ tại đó. Từ năm 1939 đến tháng 2/1945, ông bị giam cầm liên tục tại các nhà tù Bắc Mê, Chợ Chu, Bá Vân, Nghĩa Lộ, Hải Dương. Bằng sự hăng hái hoạt động và luôn giữ vững phẩm chất cách mạng, tháng 6/1942 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại nhà tù Bá Vân.

Tháng 3/1945, ông cùng một số đồng chí vượt ngục và tham gia cuộc khởi nghĩa ở Nghĩa Lộ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông lại bị địch bắt, giam tại nhà tù Nghĩa Lộ. Sau đó, ông lại vượt ngục trở về hoạt động ở Hải Dương và được chỉ định làm Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Hải Dương, phụ trách chỉ đạo phong trào cách mạng ở 3 huyện dọc trục đường 18 là Chí Linh, Đông Triều và Kinh Môn.

Tháng 6/1945, ông cùng đồng chí Trần Cung, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, và đồng chí Nguyễn Bình đã nhạy bén, nắm đúng thời cơ, táo bạo tổ chức cuộc khởi nghĩa ở 3 huyện Đông Triều, Chí Linh và Kinh Môn. Cuộc khởi nghĩa thành công và giành được chính quyền về tay nhân dân. Sau đó, ông cùng các đồng chí Trần Cung và Nguyễn Bình sáng lập Đệ tứ chiến khu, gồm các tỉnh và các huyện Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh, Chí Linh, Đông Triều, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Cẩm Giàng, Vĩnh Bảo. Ông được bầu làm Bí thư đầu tiên của Đệ tứ chiến khu.

Cách mạng tháng Tám thành công, nhưng tình hình ở vùng duyên hải Bắc Bộ rất phức tạp do bọn thổ phỉ, điển hình là nhóm phỉ do Dương Đại Bân cầm đầu, nổi lên quấy nhiễu với âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ. Ông lại được Trung ương phái ra Hòn Gai trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng nhằm sớm ổn định tình hình. Bằng ý chí và sự khôn khéo, mềm dẻo trong chỉ huy, chỉ đạo, ông đã vận động nhân dân cùng với lực lượng vũ trang từng bước đập tan âm mưu của bọn phản động, bảo vệ chính quyền cách mạng và nhân dân.

Tháng 5/1946, ông là Ủy viên quân sự miền duyên hải Bắc Bộ. Khi Chiến khu 3 được thành lập, ông được chỉ định làm Chính ủy Trung đoàn 42 và là Thành ủy viên Thành ủy Hải Phòng. Từ tháng 6 đến tháng 9/1946, ông là Phó bí thư Chiến khu ủy kiêm Chính trị viên Trường Quân chính Chiến khu 3. Cuối năm 1946, để chuẩn bị cho kháng chiến toàn quốc, ông được giao nhiệm vụ Bí thư Chiến khu ủy 12 gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn và Hải Ninh.

Năm 1948, ông được Tổng Quân ủy chỉ định làm Chính ủy Trường Bổ túc sơ cấp thuộc Bộ Tổng Tư lệnh. Sau đó, ông là Chính ủy Chiến khu 12 và là đặc phái viên Ban Thanh tra của Bộ Tổng Tư lệnh. Từ tháng 10/1949 đến tháng 9/1952, ông là Tổng hội trưởng Tổng hội Ái hữu thương binh. Do sức khỏe bị giảm sút vì bị bệnh sốt rét, suy kiệt cơ thể, nên tháng 10/1952 ông được Chính phủ cho đi chữa bệnh tại Trung Quốc đến giữa năm 1954. Tháng 10/1954, ông được Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ làm Chính ủy Cục Quân y.

Trên cương vị Chính ủy Cục Quân y, ông đã bàn bạc, trao đổi với bác sĩ Vũ Văn Cẩn (Cục trưởng) cùng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Cục Quân y tập trung giải quyết 3 vấn đề lớn mang tính chiến lược của ngành, đó là:

Vấn đề thứ nhất: Tập trung giải quyết những tồn đọng về mặt quân y sau chiến tranh, mở đầu là việc bảo đảm quân y cho công tác tập kết lực lượng vũ trang từ miền Nam ra miền Bắc và tổ chức tốt việc cứu chữa thương binh, bệnh binh đang điều trị tại các cơ sở quân y trong toàn quân, trong đó có việc trao đổi tù hàng binh. Bằng bản lĩnh của một cán bộ chính trị đã được rèn luyện và qua nhiều thử thách, ông xuống tận các đầu cầu tập kết lực lượng vũ trang từ Nam ra Bắc động viên bộ đội, động viên cán bộ và nhân viên quân y bám sát nhiệm vụ chăm sóc, điều trị thật tốt cho anh em. Kết quả trong gần 300 ngày đêm dưới sự lãnh đạo của Cục trưởng Vũ Văn Cẩn và Chính ủy Nguyễn Hải Thanh, ngành Quân y đã góp phần thắng lợi trong việc bảo đảm chuyển 73.859 cán bộ, chiến sĩ và 4.646 thương binh, bệnh binh từ Nam ra Bắc an toàn.

Đồng thời trong lúc này, Đảng ủy và chỉ huy Cục Quân y đã cử 2 đoàn cán bộ chuyên môn, 2 đội điều trị, 2 phân đội vệ sinh phòng dịch và chuyển một lượng lớn thuốc men tăng cường cho hai khu vực trao trả tù hàng binh chủ yếu là cảng Việt Trì (Phú Thọ) và cảng Sầm Sơn (Thanh Hóa). Cùng với các bác sĩ Vũ Văn Cẩn và Lê Văn Ốc, ông đến tận các địa điểm trao trả tù hàng binh để kiểm tra, nắm tình hình phục vụ, ý thức chấp hành chính sách đối với tù hàng binh của cán bộ, nhân viên quân y, kịp thời uốn nắn những biểu hiện sai trái trong nhận thức, trong hành vi đối xử với tù hàng binh. Bằng sự chỉ đạo sát sao, cụ thể và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc của tập thể lãnh đạo Cục Quân y, chỉ trong một thời gian ngắn, ngành Quân y đã cùng với các ngành nghiệp vụ thuộc Tổng cục Hậu cần bảo đảm tốt công tác phục vụ việc trao trả hàng nghìn tù hàng binh cho đối phương và đón nhận hơn 6.000 cán bộ, chiến sĩ cùng hơn 300 đồng bào ta bị địch giam giữ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị này.

Vấn đề thứ hai: Tập trung củng cố hệ thống tổ chức ngành Quân y sau chiến tranh, trong đó chú trọng đến việc đào tạo nhân lực của ngành Quân y. Với cương vị Chính ủy Cục Quân y, đã kinh qua nhiều cương vị công tác khác nhau, ông luôn nhận thức một cách khách quan là: sau chiến tranh, tổ chức ngành Quân y phục vụ chiến tranh có còn phù hợp không?, xây dựng ngành Quân y như thế nào để đáp ứng tốt nhiệm vụ xây dựng quân đội? Từ nhận thức đó, ông đã cùng với Cục trưởng Vũ Văn Cẩn và các đồng chí trong Đảng ủy Cục đề xuất chủ trương chấn chỉnh tổ chức lực lượng và đào tạo nhân lực. Trước mắt là phải xây dựng cơ quan Cục Quân y đủ mạnh, làm tốt chức năng tham mưu và quản lý chỉ đạo, một số phòng nghiệp vụ mới như huấn luyện, tài vụ, biên dịch xuất bản được thành lập; đồng thời báo cáo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Hậu cần về quy hoạch các bệnh viện quân đội, trong đó có vấn đề phân tuyến các bệnh viện theo phân cấp điều trị, xây dựng Phân viện 8 thành Viện Quân y 108 tuyến cuối toàn quân. Đặc biệt trong thời gian này ông cùng lãnh đạo, chỉ huy Cục dành nhiều thời gian, công sức cho việc đào tạo nhân lực của ngành: củng cố nâng cấp Trường Sĩ quan Quân y; mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ… Các chủ trương đúng đắn đó đã làm tiền đề cho việc xây dựng ngành Quân y có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Vấn đề thứ ba: Tập trung làm tốt công tác chính trị tư tưởng, đoàn kết thống nhất xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y có bản lĩnh chính trị, một lòng theo Đảng phục vụ quân đội, phục vụ nhân dân. Do điều kiện lịch sử và xuất phát từ chính sách cán bộ của Đảng, các cán bộ quân y tham gia quân đội từ nhiều nguồn, nhiều lớp khác nhau. Lớp cán bộ y, dược đầu tiên được đào tạo dưới thời Pháp thuộc, được Đảng giáo dục và phục vụ quân đội trong những năm kháng chiến nên đã trưởng thành về nhiều mặt; song tư tưởng đẳng cấp, học vị của hệ tư tưởng phong kiến, tư sản ở một số cán bộ quân y còn nặng nề và phổ biến, đã tác động không nhỏ đến công tác xây dựng tinh thần đoàn kết, nhất trí trong ngành. Việc so sánh, phân biệt giữa các hệ thống đào tạo, các khóa, các lớp thường được một số bác sĩ tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội từ năm 1945 về trước đem ra tranh luận, trong đó có việc xem xét, đánh giá năng lực, trình độ của mỗi cá nhân khá tùy tiện và mang tính định kiến nặng nề. Thực tiễn từ năm 1955-1958, đã diễn cuộc tranh luận âm thầm trong ngành Quân y xoay quanh vấn đề nhằm xác định bác sĩ “chân giày”, bác sĩ “chân đất”. Những điều trên luôn được Chính ủy Nguyễn Hải Thanh theo dõi và suy nghĩ. Ông đã nhiều lần trao đổi với Cục trưởng Vũ Văn Cẩn để tìm biện pháp giải quyết các vấn đề nhận thức, tư tưởng, quan điểm phục vụ đã và đang nảy sinh mâu thuẫn trong nội bộ ngành; đồng thời, ông báo cáo lên trên tất cả những tồn tại khiến ông phải trăn trở, suy nghĩ.

Để giải quyết vấn đề đó, tháng 2/1956, các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y và Nguyễn Hải Thanh, Chính ủy Cục Quân y đã chủ trì một cuộc họp, mà đối tượng chủ yếu là các y sĩ, bác sĩ, dược sĩ, sinh viên y khoa đang có mặt tại Hà Nội. Với tinh thần thẳng thắn, các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Vũ Văn Cẩn và Nguyễn Hải Thanh đã lắng nghe những thắc mắc, nguyện vọng, những ý kiến đa chiều của cán bộ quân y về nhiệm vụ, về cống hiến và hưởng thụ, về chính sách đãi ngộ và sử dụng cán bộ. Sau 2 ngày làm việc, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thay mặt Quân ủy Trung ương hoan nghênh tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ quân y, chỉ ra những mặt tiến bộ quan trọng, khẳng định sự cần thiết của đội ngũ cán bộ quân y trong việc xây dựng và phục vụ quân đội; đồng thời đồng chí cũng chỉ ra một số sai lầm, thiếu sót trong nhận thức tư tưởng, trong quan điểm lập trường, ý thức phục vụ cách mạng của một số cán bộ quân y, lên án những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân tồn tại trong mỗi con người chưa được khắc phục đúng mức, chưa nhận thức được tình hình, nhiệm vụ của đất nước và của quân đội, nên chưa đề cao được trách nhiệm chính trị của mỗi cá nhân trong trách nhiệm xây dựng quân đội cách mạng, chính quy và hiện đại.

Sau cuộc họp đó, Chính ủy Nguyễn Hải Thanh đã chủ trì nhiều hội nghị bàn về công tác cán bộ, đào tạo chuyên ngành và chấn chỉnh những nhận thức chưa đúng về quan điểm phục vụ, tư tưởng địa vị, đẳng cấp của một bộ phận cán bộ quân y. Sau một thời gian, tình hình tư tưởng của một số cán bộ quân y thuộc lứa đầu tiên đã có chuyển biến mạnh mẽ theo chiều hướng tốt.

Tháng 10/1958, do yêu cầu nhiệm vụ, ông chuyển công tác sang ngành Tòa án. Tại đây, ông lần lượt giữ các cương vị: Thẩm phán, Ủy viên Ủy ban thẩm phán, Chánh tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao. Tháng 10/1970, ông được nghỉ hưu.

Trong cuộc sống gia đình, ông là người chồng, người cha, người ông mẫu mực. Đặc biệt trong mối quan hệ giữa ông với Cục trưởng Vũ Văn Cẩn không chỉ bó gọn ở tình đồng chí, đồng đội, mà còn có mối quan hệ thông gia với nhau (con gái út của Chính ủy Nguyễn Hải Thanh là Nguyễn Thị Hồng Giang kết duyên cùng con trai cả của Cục trưởng Vũ Văn Cẩn là Nguyễn Văn Nghị, chị Giang sau này là Thiếu tướng, phó giáo sư, tiến sĩ, Chính ủy Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, chuyên viên đầu ngành mắt quân đội). Ông mất ngày 24/9/1998 tại quê nhà, hưởng thọ 86 tuổi.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương đã lấy tên ông đặt cho một con đường thuộc thành phố Hải Dương.

Chính ủy Nguyễn Hải Thanh đã đi xa, nhưng công lao to lớn của ông đối với Tổ quốc, với nhân dân, với Cục Quân y vẫn được các thế hệ cán bộ, nhân viên quân y kế tiếp ghi nhớ và trân trọng. Người chính ủy gương mẫu, tập trung được lực lượng, có tính kiên quyết, táo bạo nhưng khôn khéo, có tầm nhìn xa, trông rộng, có tấm lòng nhân hậu, trung thực, giản dị và liêm khiết, tận tâm, tận lực với công việc, xứng đáng là tấm gương sáng để các thế hệ sau học tập và noi theo. 

TS. CHU TIẾN CƯỜNG 

Trung tướng, nguyên Cục trưởng Cục Quân y 

BS. NGUYỄN NGỌC BÍCH 

Đại tá, nguyên Thư ký Tòa soạn Tạp chí Y học Quân sự




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa