Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Công tác bảo đảm sức khỏe và cứu hộ thủy thủ tàu ngầm


QĐND - Thứ Ba, 13/08/2013, 16:30 (GMT+7)

Tàu ngầm có 2 loại là tàu ngầm diezen và tàu ngầm nguyên tử. Thông thường tàu ngầm diezen dài 80-90m, rộng 10-12m; tàu ngầm nguyên tử dài 80-120m, rộng 10-14m. Tàu ngầm có thể lặn dưới biển với các độ sâu khác nhau. Tàu ngầm chiến thuật mang vũ khí thông thường, lặn ở độ sâu 200-300m; tàu ngầm chiến lược mang tên lửa hạt nhân, lặn ở độ sâu trung bình 500m.

Để làm chủ được tàu ngầm, đòi hỏi người thủy thủ phải có sức khỏe tốt, thích nghi được với các điều kiện cực hạn trong tàu ngầm như thay đổi áp lực, không gian chật hẹp, làm việc độc lập và căng thẳng trong nhiều ngày...

Tàu ngầm Chakra -152 của Hải quân Nga


1. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE THỦY THỦ TÀU NGẦM.

Có nhiều yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến sức khỏe của thủy thủ khi làm việc trên tàu ngầm như quá tải trong hoạt động nghề nghiệp, căng thẳng thần kinh, tâm lý trong những chuyến đi biển độc lập dài ngày, điều kiện khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết vùng biển, ăn thiếu rau xanh, không gian chật hẹp, làm việc độc lập cách ly với thế giới bên ngoài. Những yếu tố bất lợi đó không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thủy thủ, mà còn làm cho cơ thể nhanh mệt mỏi, giảm khả năng lao động, tốc độ xử lý thông tin chậm, gây ra những bất lợi về mặt tâm lý, có thể dẫn đến tai nạn.

Các nghiên cứu đều cho thấy yếu tố con người trong hạm đội tàu ngầm đóng vai trò rất quan trọng. Trong các vụ tai nạn tàu ngầm có tới 70% do lỗi của con người. Để bảo đảm sức khỏe cho thủy thủ làm việc ở tàu ngầm, cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi trong môi trường đến các chức năng sinh lý của cơ thể và khả năng thích nghi của thủy thủ với môi trường lao động.

Hoạt động nghề nghiệp của thủy thủ tàu ngầm được chia ra các giai đoạn chính như sau: trước khi đi biển, trong quá trình đi biển, sau khi đi biển, giữa 2 đợt đi biển. Các giai đoạn này khác nhau về loại hình hoạt động và điều kiện lao động. Hoạt động chủ yếu của thủy thủ làm việc trên tàu ngầm của Hải quân Nga là nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Nhiều tác giả đã nghiên cứu trạng thái chức năng cơ thể của thủy thủ trong những chuyến đi biển dài ngày và hoạt động độc lập dưới biển nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe và khả năng hoạt động nghề nghiệp của kíp thủy thủ làm việc trong tàu ngầm ở các giai đoạn khác nhau từ lúc rời căn cứ cho đến địa điểm tác chiến quy định.

Một trong những yếu tố quan trọng trong công tác bảo đảm quân y cho thủy thủ làm việc trong tàu ngầm là định kỳ đánh giá trạng thái sức khỏe và chu trình làm việc của thủy thủ khi thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Trong những năm 1970-1980, ở Liên Xô (cũ) đã có nhiều công trình nghiên cứu về bảo đảm quân y cho thủy thủ làm việc trong tàu ngầm, tuy nhiên những công trình này ít được áp dụng trên thực tế. Năm 1990, Sapov I.A và cộng sự đã biên soạn tài liệu Hướng dẫn bảo đảm quân y cho thủy thủ tàu ngầm thuộc hạm đội hải quân, trong đó nêu rất chi tiết các tư liệu về bảo đảm quân y trong những chuyến đi biển dài ngày. Hướng dẫn bảo đảm quân y bao gồm: các biện pháp đánh giá tình trạng sức khỏe, tiên lượng sự thay đổi về thể lực, các biện pháp làm tăng khả năng lao động và hoạt động nghề nghiệp, phòng chống mệt mỏi quá ngưỡng, đánh giá tác động của các yếu tố ngoại cảnh lên cơ thể, các biện pháp vệ sinh, phòng chống dịch bệnh, điều trị dự phòng, các cơ số thuốc (cấp cứu và thường dùng) sử dụng trong mỗi chuyến đi biển. Đặc biệt lưu ý các biện pháp dự phòng bệnh truyền nhiễm, vì tàu ngầm là một môi trường kín, nếu xuất hiện bệnh truyền nhiễm sẽ dễ lây lan từ người bệnh sang người lành, đe dọa tính mạng của tất cả các thủy thủ trên tàu. Một trong các yếu tố làm tăng khả năng chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố ngoại cảnh là sự thích nghi với môi trường sống.

Nhiều tác giả đã nghiên cứu sự thích nghi của thủy thủ làm việc trong tàu ngầm. Kết quả nghiên cứu của Myznhikov I.L và cộng sự (2008) [5] cho thấy quá trình thích nghi của thủy thủ tàu ngầm trải qua 2 giai đoạn: giai đoạn I (làm việc dưới 4 năm) giảm sự thích nghi; và giai đoạn II (làm việc trên 4 năm) tăng cường thích nghi, đồng thời giảm khả năng dự trữ chức năng của cơ thể. Khi cơ thể giảm khả năng dự trữ chức năng là lúc bắt đầu hình thành bệnh lý.

Solodkov A.S (1997) sau nhiều năm nghiên cứu đã đánh giá quá trình thích nghi của thủy thủ tàu ngầm trong những chuyến đi biển độc lập dài ngày như sau:

- Giai đoạn căng thẳng về tâm, sinh lý: thời gian chuẩn bị (trước khi đi biển) và 10-15 ngày đầu tiên đi biển.

- Giai đoạn thích nghi tương đối: sau 15-45 ngày đi biển.

- Giai đoạn rối loạn thích nghi: sau 45-60 ngày đi biển.

- Giai đoạn tái thích nghi: sau 60 ngày đi biển.

Các giai đoạn trên có thể thay đổi tùy thuộc vào tính chất nhiệm vụ và các biện pháp bảo đảm quân y trên tàu ngầm. Ulitopxki A.D và cộng sự (2003) theo dõi hoạt động của thủy thủ tàu ngầm nhận thấy: sau 15-20 ngày đi biển thủy thủ hay căng thẳng, bực tức, dễ xảy ra cãi cọ trong nội bộ thủy thủ đoàn; sau 25-30 ngày thường không tập trung trong công việc, hay xảy ra sai sót trong thao tác; sau 40 ngày không quan tâm đến sức khỏe của bản thân, từ chối khám bệnh; sau 60 ngày xuất hiện mệt mỏi, khó chịu trong người do làm việc quá lâu trong môi trường riêng biệt và kín hoàn toàn.

Kết quả theo dõi sức khỏe thủy thủ tàu ngầm của Dovgusha V.V (2006) [2] cho thấy: trạng thái chức năng cơ thể của thủy thủ giảm mạnh sau 40 ngày đi biển, đặc biệt tình trạng sức khỏe của thủy thủ giảm rõ rệt sau 70 ngày đi biển. Sau thời gian đi biển 55-60 ngày xuất hiện các triệu chứng suy nhược thần kinh ở 31% thủy thủ, giảm khả năng lao động trí óc, giảm sự chú ý và giảm trí nhớ (53%), dễ nổi nóng, tức giận (16%). Đến ngày đi biển thứ 85-90 số thủy thủ dễ nổi nóng, tức giận tăng lên 27%, có rối loạn hoạt động thần kinh thực vật của tim, tăng các sai sót và các lỗi kỹ thuật trong công việc, khả năng làm việc giảm mạnh. Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả [2], [5]... đã khẳng định: trong các chuyến đi biển độc lập dài ngày, các thủy thủ không thực sự thích nghi với các yếu tố môi trường trong tàu ngầm, giai đoạn đầu có sự thích nghi tương đối, nhưng sau 1 tháng chuyển sang trạng thái rối loạn thích nghi.

2. CƠ CẤU BỆNH CỦA THỦY THỦ TÀU NGẦM.

Tiêu chí chủ yếu để đánh giá tình trạng sức khỏe của thủy thủ tàu ngầm trong các chuyến đi biển dài ngày là tỉ lệ cơ cấu bệnh của thủy thủ đoàn. Vào đầu thập kỷ 90 (thế kỷ XX), do nhiệm vụ quân sự căng thẳng và những yêu cầu cao đối với việc chỉ huy tàu ngầm tại Hạm đội Phương Bắc (Hải quân Nga), sĩ quan chỉ huy bị bệnh mạn tính chiếm 33%. Các bệnh đường tiêu hóa xuất hiện ngay từ năm đầu tiên phục vụ trên tàu ngầm, tăng lên 50% ở năm thứ 7 và 100% ở năm thứ 19; tỉ lệ mắc bệnh tim mạch tương ứng ở các năm thứ 6, 13 và 26; tỉ lệ mắc các bệnh cơ - xương - khớp tương ứng ở các năm thứ 1, 8 và 16; ngoài ra, các thủy thủ bị bệnh về tâm lý chiếm 15,6% [4]. Nguyên nhân bị bệnh là do các thủy thủ thường xuyên bị căng thẳng về thần kinh, tâm lý bởi nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu cao và làm việc trong môi trường khép kín, độc lập, bí mật dưới biển sâu.

Dovgusha V.V (2006) và cộng sự [2] nghiên cứu cơ cấu bệnh của thủy thủ tàu ngầm là sĩ quan trẻ và sĩ quan phục vụ lâu năm của Hạm đội Phương Bắc cho thấy: các sĩ quan trẻ chủ yếu mắc bệnh đường tiêu hóa (48%), các bệnh đường hô hấp, tim mạch và chuyển hóa (16,6%); các sĩ quan phục vụ lâu năm có 80% mắc bệnh hệ cơ - xương - khớp (chủ yếu bị hư xương sụn, thoái hóa khớp), 62% mắc bệnh chuyển hóa (béo phì các mức độ), 38% bị bệnh đường tiêu hóa (trong đó 19% bị viêm dạ dày mạn tính, 7% loét dạ dày - tá tràng), 34% mắc bệnh tim mạch - tuần hoàn (trong đó 27,4% bị vữa xơ động mạch, 8% bị trĩ và 2,5% tăng huyết áp); số sĩ quan hoàn toàn khỏe mạnh chỉ chiếm 21,5%.

Đối với các sĩ quan phục vụ lâu năm của Hạm đội Phương Bắc, có một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe: béo phì, hút thuốc lá, tăng cholesterol máu. Kết quả kiểm tra sức khỏe chuyên sâu cho đội ngũ chỉ huy tàu ngầm đã phát hiện nhiều yếu tố nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của họ: 18% có 2 yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch (béo phì, tăng cholesterol máu), 22% có 3 yếu tố nguy cơ (béo phì, hút thuốc lá, tăng cholesterol máu) và 60% có tất cả các yếu tố nguy cơ (béo phì, uống rượu, hút thuốc lá, ít vận động, tăng cholesterol máu...). Tuy nhiên, ý thức phòng bệnh của họ chưa cao, coi thường các yếu tố nguy cơ, và chỉ có 25% sĩ quan đến với quân y để được chăm sóc sức khỏe. Kết quả: 20% có sức khỏe ổn định và có xu hướng tốt lên, 13% không thay đổi, số còn lại sức khỏe kém đi. Sau những đợt giám định sức khỏe, những sĩ quan không đủ sức khỏe phục vụ trên tàu ngầm phải chuyển loại (18% sĩ quan trẻ và 25% sĩ quan lâu năm phải chuyển lên làm việc ở tàu nổi.

Theo kết quả nghiên cứu của Dovgusha V.V (2009) [3], trong cơ cấu bệnh của thủy thủ là lính nghĩa vụ quân sự phục vụ trên tàu ngầm trong những chuyến đi biển dài ngày (3-6 tháng), vi chấn thương chiếm vị trí hàng đầu (30,9%), sau đó đến bệnh đường hô hấp (29,2%), bệnh da liễu và các tổ chức dưới da (21,6%). Đối với sĩ quan làm việc ở tàu ngầm trong những chuyến đi biển dài ngày, các bệnh do cảm lạnh chiếm vị trí hàng đầu (34,6%), sau đó là vi chấn thương (15,4%), bệnh da liễu và các tổ chức dưới da (14.3%). Trong thời kỳ khó khăn của thập kỷ 90, tỉ lệ bệnh của thủy thủ tàu ngầm tăng do tính chất căng thẳng của nhiệm vụ chiến đấu, công tác bảo đảm quân y và điều kiện chăm sóc sức khỏe kém, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, rau và hoa quả tươi chỉ được cung cấp ở mức tối thiểu. Trong những đợt hoạt động trên biển dài ngày, thực phẩm mang theo chủ yếu là đồ hộp (50-80% nhu cầu thịt và cá tươi được thay thế bằng thịt, cá hộp), việc cung cấp rau và hoa quả tươi phụ thuộc nhiều vào mùa (mùa đông hầu như không có), dẫn đến tình trạng thiếu vitamin kéo dài. Ăn uống kém, lao động thể lực nặng nhọc, căng thẳng, dẫn đến tình trạng sức khỏe của thủy thủ giảm sút.

Boisov S.A và cộng sự (1997) [1] nghiên cứu tuổi sinh học của các thủy thủ làm việc trên tàu ngầm ở Hạm đội Phương Bắc, nhận thấy: các thủy thủ phục vụ ở vùng Bắc Âu già nhanh hơn so với thủy thủ phục vụ ở Hạm đội Thái Bình Dương. Các tác giả nghiên cứu sự chênh lệch giữa tuổi sinh học và tuổi tính theo năm cho kết quả: 54% thủy thủ làm việc trong tàu ngầm có sự chênh lệch giữa tuổi sinh học và tuổi tính theo năm từ 3-9 tuổi, 21% có sự chênh lệch từ 9-15 tuổi (trông già hơn so với tuổi thật). Điều này có thể giải thích là do mức độ lo âu do công việc căng thẳng và bị các bệnh mạn tính đã ảnh hưởng xấu đến tuổi sinh học và trạng thái chức năng của cơ thể.

Để nâng cao sức khỏe và khả năng sẵn sàng chiến đấu cho thủy thủ tàu ngầm, ngày 25/2/2003 Chính phủ Liên bang Nga đã quyết định tăng cường công tác bảo đảm quân y, nâng cao tiêu chuẩn tuyển chọn sức khỏe, nâng cao chất lượng công tác bảo đảm hậu cần. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, tình trạng sức khỏe của thủy thủ tàu ngầm được nâng lên rõ rệt. Kết quả phân tích tình trạng sức khỏe của thủy thủ qua 98 chuyến đi biển dài ngày trên tàu ngầm nguyên tử và 19 chuyến đi biển dài ngày trên tàu ngầm diezel cho thấy, tỉ lệ các bệnh đường hô hấp trên và bệnh rối loạn thần kinh giảm từ 25-30% [3].

Mức độ mắc bệnh của thủy thủ tỉ lệ thuận với thâm niên công tác, những thủy thủ làm việc ở tàu ngầm từ 20-30 năm thường mắc các bệnh tim mạch, suy nhược thần kinh và suy nhược cơ thể nhiều hơn 3-4 lần so với những thủy thủ mới đi biển. Vì vậy, đối với những thủy thủ đi biển độc lập dài ngày, sau khi trở về căn cứ cần được nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe. Quân y đơn vị cần áp dụng các biện pháp điều trị phục hồi tích cực để họ có thể tái thích nghi với điều kiện khí hậu và các sinh hoạt ở trên bờ.

Trong công tác bảo đảm quân y, các biện pháp dự phòng đóng vai trò rất quan trọng đối với việc giữ gìn và bảo đảm sức khỏe cho thủy thủ tàu ngầm. Những năm gần đây, số lượng thủy thủ tàu ngầm giảm hơn so với 10-15 năm trước, tuy nhiên do nhiệm vụ quân sự phức tạp trong tình hình mới, do tính chất căng thẳng và cường độ sẵn sàng chiến đấu cao trong những chuyến đi biển độc lập dài ngày, nhiều thủy thủ bị rối loạn tâm lý và suy nhược thần kinh, vì vậy bác sĩ quân y hải quân cần phải có sức khỏe tốt và phải được huấn luyện chuyên sâu về điều trị dự phòng cho thủy thủ tàu ngầm tại Viện Y học Hải quân hoặc Học viện Quân y Kirov. Chủ nhiệm Quân y Hải quân phải là người tích cực tham gia vào việc soạn thảo các văn bản về bảo đảm quân y cho thủy thủ và kíp chỉ huy tàu ngầm trong quá trình đi biển và trong chương trình huấn luyện chiến đấu của hạm đội hải quân. Đối với thanh niên nghĩa vụ quân sự vào phục vụ trong lực lượng hải quân phải được khám tuyển kỹ về thể lực và tâm lý, trước khi đi biển phải có kết luận đủ sức khỏe để thực hiện các nhiệm vụ ở tàu ngầm của Hội đồng Giám định y khoa Hải quân.

Trước yêu cầu và nhiệm vụ hiện nay, phương pháp giám định sức khỏe thủy thủ tàu ngầm cũng cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. ở đơn vị cần phải có các phương tiện chẩn đoán sớm những rối loạn về chuyển hóa, suy nhược thần kinh, theo dõi mạch và huyết áp 24 giờ, xét nghiệm nồng độ lipit trong máu, đánh giá tình trạng tiền bệnh lý của thủy thủ. Bộ phận quân y trên tàu ngầm cần phải được trang bị các phương tiện chẩn đoán hiện đại để có thể đánh giá được trạng thái chức năng của thủy thủ đoàn trong những chuyến đi biển dài ngày: điện tim Holter, siêu âm màu 4D, điện não vi tính, máy xét nghiệm sinh hóa máu, dụng cụ phẫu thuật, máy chụp X quang tăng sáng...

Một trong những nội dung của công tác bảo đảm quân y cho thủy thủ làm việc ở tàu ngầm là các thủy thủ phải tuân thủ chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý trong điều kiện khép kín của con tàu, phải thường xuyên rèn luyện thể lực trên các phương tiện rèn luyện chuyên dụng như rèn luyện trên xe đạp lực kế, chạy trên thảm, rèn luyện cơ bắp... Kinh nghiệm của Quân y Hải quân Nga cho thấy, do làm tốt công tác bảo đảm quân y cho thủy thủ làm việc ở tàu ngầm, nên trong 2 năm gần đây (2010-2011) tỉ lệ mắc bệnh của thủy thủ đã giảm được 40% và tương đương với tỉ lệ mắc bệnh của chiến sĩ làm việc trên bờ.

3. CÁC PHƯƠNG TIỆN VÀ BIỆN PHÁP CỨU HỘ THỦY THỦ TÀU NGẦM GẶP NẠN.

Tai nạn có thể xảy ra với tàu ngầm cả trong thời chiến và thời bình. Trong thời chiến tàu ngầm bị nạn là do hỏa lực của đối phương, trong thời bình tàu ngầm gặp nạn do nhiều nguyên nhân khác nhau: va chạm với các tàu mặt nước, va vào đá ngầm làm nước tràn vào bên trong vỏ cứng, hỏa hoạn, chập điện... Theo thống kê của Hạm đội Hải quân Nga, 60% số vụ tai nạn trong thời bình xảy ra khi tàu ngầm đang ở trạng thái nổi. Khi tàu ngầm gặp nạn, nhiệm vụ khẩn cấp là nhanh chóng cứu thủy thủ ra khỏi tàu. Khi tàu ngầm bị hỏa hoạn hay chập điện, kíp quân y trên tàu cần bình tĩnh xử trí các trường hợp bị ngạt, chấn thương do va đập, ngất... Khi tàu ngầm bị nạn do va đập, nước tràn vào bên trong vỏ cứng, cần nhanh chóng đưa thủy thủ ra khỏi tàu theo lối thoát hiểm.

Có 2 loại phương tiện cứu hộ: cứu hộ cá nhân (bộ quần áo cứu hộ cá nhân, thiết bị cứu hộ cá nhân) và cứu hộ tập thể (phao bơi cứu hộ, buồng cứu hộ tập thể).

Bộ quần áo cứu hộ cá nhân bao gồm: bộ quần áo lặn GK -2, mũ, thiết bị giảm áp cá nhân IDA; thiết bị cứu hộ cá nhân bao gồm: bình dưỡng khí, phao bơi, dây phao (thiết bị cứu hộ cá nhân được trang bị dù hãm tốc độ, dù hãm tự động mở ra ở độ sâu định trước để giảm tốc độ nổi lên ở những đoạn cuối để tránh thay đổi áp lực đột ngột khi lên mặt nước). Thủy thủ có thể thoát ra khỏi tàu ngầm bằng thiết bị cứu hộ cá nhân ở các độ sâu từ 300-400m. Buồng cứu hộ tập thể là buồng tự nổi lên mặt nước để cứu toàn bộ kíp thủy thủ khi tàu gặp nạn. Buồng cứu hộ có trang bị phương tiện thông báo tín hiệu khẩn cấp, đánh dấu vị trí tai nạn và phương tiện thông tin liên lạc với lực lượng tìm kiếm cứu nạn. Đây là một thiết bị cứu hộ không những có thể cứu được những thủy thủ lành lặn, mà còn có thể cứu được cả những thủy thủ bị thương do bị va đập khi tàu gặp nạn. Những người này không thể tự cứu mình bằng các phương tiện cứu hộ cá nhân nếu không có sự giúp đỡ của nhân viên quân y.

Sau vụ tàu ngầm Comsomolets của Nga bị nạn (1989), Hạm đội Hải quân Nga đã tăng cường và hoàn thiện các phương tiện cứu hộ cá nhân. Từ năm 1991, tất cả các tàu ngầm đều được trang bị bộ quần áo cứu hộ chuyên dụng và phao cứu sinh cho thủy thủ. Khi bị nạn dưới biển, thủy thủ có thể thoát ra bằng các phương tiện cứu hộ, thoát ra theo dây phao, tự do nổi lên mặt nước và gọi phương tiện cấp cứu. Theo số liệu của Dovgusha V.V (2009) [3], hơn 50% số trường hợp thủy thủ tự thoát ra được khỏi tàu ngầm bằng phương tiện cứu hộ cá nhân, gần 40% do trục vớt tàu ngầm và gần 10% nhờ các biện pháp khác.

Ngoài các phương tiện cứu hộ cá nhân và tập thể, ở Nga đã sản xuất loại tàu ngầm cứu hộ ở các độ sâu khác nhau. Tàu ngầm cứu hộ sau khi nhận được tín hiệu cấp cứu sẽ đến nơi xảy ra tai nạn và sử dụng các phương tiện cứu hộ với sự trợ giúp của thợ lặn để cứu thủy thủ ra khỏi tàu bị nạn. Tuy nhiên, một số trường hợp bất khả kháng, khi các phương tiện điều khiển điện tử trong con tàu bị phá hủy hoàn toàn, các cửa thoát hiểm không thể mở ra được, nước tràn vào các khoang thì việc cứu thủy thủ ra khỏi tàu ngầm sẽ vô cùng khó khăn. Nhiều trường hợp tàu ngầm bị nạn (như tàu Cuốc -xcơ) toàn bộ kíp thủy thủ trên tàu không thoát ra được và đều hy sinh.

Như vậy, trong công tác bảo đảm quân y cho thủy thủ làm việc ở tàu ngầm trong những chuyến đi biển dài ngày, người chỉ huy và chủ nhiệm quân y phải tiên lượng được tất cả các yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm việc của thủy thủ, trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp dự phòng tích cực. Các biện pháp nhằm làm tăng khả năng chịu đựng của thủy thủ với các yếu tố bất lợi trong môi trường bao gồm: tuyển chọn kỹ về thể lực và tâm sinh lý, thường xuyên rèn luyện thể lực, chơi các môn thể thao (bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, tennis, bơi lội...) nhằm tăng cường hoạt động các cơ, tránh ứ đọng mỡ, béo phì. Trong bữa ăn hằng ngày cần tăng cường các chất dinh dưỡng và rau quả tươi, sử dụng các phương tiện chẩn đoán hiện đại để phát hiện sớm tình trạng bệnh lý của thủy thủ và có biện pháp điều trị kịp thời. Thủy thủ cần rèn luyện tính kỷ luật và tuân thủ các chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý. Trong thời gian đi biển, kíp quân y cần theo dõi sát tình trạng sức khỏe của thủy thủ, nếu xuất hiện các biểu hiện bệnh lý như rối loạn tâm - sinh lý, suy nhược thần kinh, tăng huyết áp, mệt mỏi quá sức... thì yêu cầu thủy thủ dừng công việc để điều trị và xử trí chuyên môn. Sau mỗi chuyến đi biển dài ngày, cần tạo điều kiện để thủy thủ nghỉ ngơi, hồi phục sức khỏe tại các cơ sở an - điều dưỡng, trên cơ sở đó thủy thủ mới có đủ sức khỏe để bước vào chuyến đi biển tiếp theo và hạ thấp được tỉ lệ mắc bệnh sau mỗi đợt đi biển.

TS. PHẠM XUÂN NINH

Viện Y sinh Nhiệt đới, TTNĐ Việt - Nga

Thẩm định khoa học: PGS.TS. NGUYỄN TÙNG LINH




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa