Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Tổ chức bảo đảm quân y của quân đội Mỹ


QĐND - Thứ Tư, 07/11/2012, 9:2 (GMT+7)

Lực lượng vũ trang Mỹ gồm 5 thành phần: lục quân, hải quân, không quân, lính thủy đánh bộ và lực lượng bảo vệ bờ biển. Bộ Quốc phòng Mỹ không có cơ quan chỉ huy quân y thống nhất, chỉ có Trợ lý Bộ trưởng về bảo đảm quân y. Mỗi quân chủng có cơ quan chỉ huy quân y riêng.

Cơ cấu quân y lục quân Mỹ gồm:

- Bộ Chỉ huy Quân y Lục quân thuộc Bộ Tư lệnh Lục quân do một Trung tướng quân y đứng đầu.

- Bộ Tham mưu Quân y Lục quân.

- 29 cơ quan đại diện.

- 20 cơ quan chỉ huy đầu ngành.

- 6 cơ quan chỉ huy quân y vùng: Bắc Đại Tây Dương, Đông Nam, Đồng Bằng Lớn, Thái Bình Dương, Châu Âu, Phía Tây. Các cơ quan này chỉ huy trực tiếp công tác điều trị tại chỗ cho quân đội.

- 5 cơ quan chỉ huy quân y chức năng: Trung tâm quân y và cơ sở huấn luyện; Y học dự phòng bảo vệ sức khỏe; Răng miệng; Nghiên cứu y học; Bảo đảm vật tư, thú y.

Nhân lực quân y gồm 7 khối:

1. Khối y gồm bác sĩ 40 chuyên khoa.

2. Khối điều dưỡng (y tá) thuộc nhiều chuyên khoa.

3. Khối cận lâm sàng gồm: chuyên viên tâm lý, quản lý bệnh viện, kỹ sư X quang, các chuyên khoa cận lâm sàng khác.

4. Khối chuyên khoa lý liệu, lao động liệu pháp, dinh dưỡng.

5. Khối răng miệng.

6. Khối thú y.

7. Khối hạ sĩ quan, chiến sĩ.

Chính sách cán bộ dành ưu tiên biên chế sĩ quan quân y. Theo kinh nghiệm chiến tranh Iraq và Afghanistan, cán bộ dân sự huy động theo chế độ hợp đồng kể cả sĩ quan dự bị không đáp ứng đầy đủ yêu cầu hiện nay.

Công tác chỉ huy lực lượng và phương tiện quân y được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau:

1. Chỉ huy tập trung ở tất cả các cấp quân y.

2. Thương binh, bệnh binh được điều trị liên tục cho đến khỏi về đơn vị hoặc giải ngũ.

3. Tiếp cận thương binh: lực lượng, phương tiện quân y được bố trí gần hỏa tuyến, nhanh chóng thu gom, phân loại, vận chuyển thương binh khi di chuyển.

4. Linh hoạt trong bảo đảm quân y: nhanh chóng phân phối, cơ động lực lượng và phương tiện khi thay đổi kế hoạch tác chiến hoặc tình huống quân sự.

5. Cơ động: các cơ sở quân y có khả năng di chuyển người và phương tiện một chuyến bằng phương tiện vận chuyển trong biên chế đạt khả năng cơ động như đơn vị chiến đấu.

6. Hiệp đồng tỉ mỉ khi làm kế hoạch bảo đảm quân y ở tất cả các cấp trên cơ sở kế hoạch tác chiến. Bảo đảm lực lượng phương tiên quân y phải có mặt ở đúng vị trí, đúng thời điểm, với số lượng cần thiết.

Dự kiến tỉ lệ thương binh, bệnh binh trong kế hoạch bảo đảm quân y được tính theo chỉ số trung bình trong chiến đấu và theo quân số tham gia chiến đấu, theo nhiệm vụ đặc biệt của đơn vị. Tỉ lệ thương binh, bệnh binh của lục quân chiếm 80% tổng số tổn thất quân y, do đó cơ quan chỉ huy quân y lục quân có trách nhiệm chính trong tổ chức cứu chữa thương binh, bệnh binh.

Theo học thuyết quân y Mỹ, công tác cứu chữa thương binh, bệnh binh ở chiến trường được thực hiện ở 4 tuyến (thê đội):

- Tuyến 1 (trận địa - tiểu đoàn): phân đội quân y chủ yếu là trạm quân y tiểu đoàn.

- Tuyến 2 (lữ đoàn): phân đội quân y chủ yếu là đội phẫu thuật tiền phương.

- Tuyến 3 (hậu phương chiến trường): phân đội quân y chủ yếu là bệnh viện dã chiến trợ chiến (bệnh viện dã chiến).

- Tuyến 4: bệnh viện tĩnh tại ngoài phạm vi chiến trường.

Tại trận địa, cấp cứu đầu tiên được tiến hành bằng tự cứu, đồng đội cứu và cứu do chiến sĩ cứu thương.

Tuyến 1: Bổ sung cấp cứu và cứu chữa đầu tiên do bác sĩ, được thực hiện bởi quân y tiểu đoàn gồm:

- Chủ nhiệm quân y tiểu đoàn (đại úy).

- Trạm trưởng trạm quân y tiểu đoàn (trung úy).

- Trợ lý bác sĩ.

- 6 chiến sĩ cứu thương (trung sĩ, thượng sĩ).

Quân số mỗi trung đội quân y có 40 người, ngoài ra có biên chế thêm chiến sĩ cứu thương (tổng số chiến sĩ cứu thương ở tiểu đoàn là 15-20 người).

Chiến sĩ cứu thương được huấn luyện quân sự trong 11 tuần, sau đó được huấn luyện chuyên môn từ 16-68 tuần tùy theo chuyên môn.

Trợ lý bác sĩ được đào tạo 2 năm trong các trường quân y.

Nhiệm vụ của trạm quân y tiểu đoàn là bổ sung cấp cứu, cứu chữa đầu tiên do bác sĩ tại trận địa, thu gom và ổn định tình trạng thương binh để vận chuyển về tuyến sau. Trong chiến đấu, trạm quân y tiểu đoàn có thể chia thành 2 bộ phận trong 24 giờ: trạm cấp cứu chính do trạm trưởng phụ trách, trạm cấp cứu tiền phương do trợ lý bác sĩ phụ trách.

Tuyến 2: Đội phẫu thuật tiền phương của lữ đoàn làm nhiệm vụ cứu chữa chất lượng để cứu sống (không trì hoãn) thương binh bị chấn thương nặng chưa thể vận chuyển ngay về hậu phương. Mỗi lữ đoàn được biên chế 1 đội phẫu thuật tiền phương.

Biên chế đội phẫu thuật tiền phương 20 người (10 sĩ quan), có 3 bác sĩ ngoại chung, 1 bác sĩ chấn thương. Nhân viên quân y trung học có 2 gây mê, 1 y tá, 1 kỹ thuật viên.

Đội phẫu thuật tiền phương không hoạt động độc lập được vì không có máy X quang, phương tiện xét nghiệm, máy phát điện, phương tiện tiệt trùng, dự trữ thực phẩm, nước. Các nhu cầu trên được bảo đảm bởi đại đội quân y thuộc tiểu đoàn trợ chiến của lữ đoàn hoặc bởi đại đội quân y tiền phương thuộc sư đoàn.

Đội phẫu thuật tiền phương có thể phẫu thuật 30 trường hợp trong 72 giờ, hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch tiến công, sau đó di chuyển về khu vực hậu phương tại bệnh viện hậu phương để sửa chữa trang bị, tiệt trùng dụng cụ và chuẩn bị cho nhiệm vụ tiếp theo.

Đội phẫu thuật tiền phương không có bộ phận điều trị tạm thời thương binh, bệnh binh do đó thương binh sau khi mổ 6-8 giờ phải được vận chuyển bằng trực thăng về bệnh viện hậu phương.

Khi thời gian vận chuyển rút ngắn còn 1 giờ, đội phẫu thuật tiền phương di chuyển đến hướng chiến dịch khác.

Tuyến 3: Bệnh viện dã chiến có 256 giường với biên chế 624 người, Bệnh viện trưởng là đại tá. Thường sử dụng phương án bệnh viện dã chiến 84 giường. Khối phẫu thuật có 6 bàn mổ có thể phẫu thuật 96 ca trong 24 giờ, bộ phận điều trị tích cực có 24 giường. Biên chế có 6 phẫu thuật viên (1 ngoại chung, 1 mạch máu, 1 ung thư, 2 chấn thương, 1 hàm mặt), 2 gây mê, 1 bác sĩ cấp cứu, 2 bác sĩ gia đình, 1 bác sĩ nội, 1 bác sĩ nhi, 1 bác sĩ X quang, 1 trợ lý bác sĩ, 16 y tá trung học, 2 y tá trung học gây mê, 3 dược sĩ.

Bộ phận X quang có máy X quang, máy chụp cắt lớp vi tính, máy siêu âm. Bộ phận xét nghiệm có ngân hàng máu, máy xét nghiệm vi sinh vật, huyết học, hóa học.

Để vận chuyển thương binh, bệnh binh từ tuyến trước về bệnh viện dã chiến có đại đội chuyển thương gồm 4 trung đội. Từ năm 2007 có trực thăng nhẹ UH-72A Lakota có thể chở 2 thương binh cáng, 4 thương binh ngồi, được trang bị hệ thống cung cấp oxy, máy hút, máy khử rung, máy theo dõi tình trạng thương binh, bệnh binh.

Tuyến 4: Bệnh viện tĩnh tại thực hiện tất cả các loại cứu chữa.

Đối tượng phục vụ của quân y lục quân gồm trên 2,7 triệu người. Thời bình quân đội được bố trí tại các khu đồn trú và tại các căn cứ quân sự. Không phải tất cả các khu đồn trú và căn cứ quân sự đều có các cơ sở quân y tĩnh tại.

Quân nhân ở các khu vực đồn trú còn được điều trị trong các cơ sở y tế dân sự (gần 30% quân nhân được điều trị trong các cơ sở y tế dân sự). ở các vùng xa, ở các khu đồn trú với số quân ít, quân nhân được điều trị trong các bệnh viện quân đội với số giường từ 35-450, khi cần thiết số giường có thể tăng lên gấp đôi.

Công tác cứu chữa cho thương binh, bệnh binh chủ yếu được quỹ bảo hiểm y tế bảo đảm. Quân nhân và gia đình, cựu chiến binh và gia đình được hệ thống bảo hiểm y tế Tricare bảo đảm. Một bộ phận cựu chiến binh, thương binh, bệnh binh mất sức còn được Bộ Cựu chiến binh bảo đảm y tế. Quân nhân hưu trí và gia đình từ 65 tuổi trở lên được bảo hiểm y tế bởi hệ thống Medicare của Bộ Y tế.

Những biện pháp chủ yếu để giảm chi phí quân y là:

- Kết hợp sử dụng cơ sở điều trị dân sự để điều trị cho quân nhân và gia đình.

- Nâng cao chất lượng điều trị, công tác y học dự phòng.

- Tập trung các phân đội quân y trong lực lượng dự bị của quân đội.

Những biện pháp chủ yếu để hoàn thiện bảo đảm quân y:

- Nâng cao chất lượng điều trị trong các bệnh viện quân đội, thường xuyên hoàn thiện cơ sở vật chất quân y.

- Bảo đảm cho sĩ quan quân y về phúc lợi xã hội, tiền lương, trợ cấp thích đáng và điều kiện sáng tạo phát triển nghiệp vụ.

- Công tác điều trị tại bệnh viện và đào tạo cán bộ được bảo đảm đầy đủ không những bởi Bộ Quốc phòng mà còn bởi các cơ quan thuộc Chính phủ.

- Phát triển hệ thống thông tin trong quân y bằng cách tích hợp các hệ thống thông tin bảo đảm quân y, kể cả áp dụng thẻ từ cá nhân chứa thông tin về tình trạng sức khỏe quân nhân.

- Nghiên cứu khoa học và thực nghiệm đặc biệt về phòng chống vũ khí sinh học, hóa học.

- Hằng năm tổ chức huấn luyện cho cán bộ các chuyên khoa trong điều kiện dã ngoại và trong tình huống sát với thực tế chiến đấu.

Theo báo cáo hằng năm của quân y Mỹ, đầu năm 2012 quân y Mỹ có 100 bệnh viện, 500 trung tâm khám bệnh đa khoa và xét nghiệm. Biên chế quân y có 132.000 người, trong đó có 80.000 quân nhân (30.000 sĩ quan, 50.000 hạ sĩ quan và chiến sĩ), 52.000 dân sự. Có 95.000 người hoạt động ở các chiến trường và làm nhiệm vụ nhân đạo. Ngân sách quân y năm 2012 là 52,5 tỉ đô-la, dự kiến năm 2015 là 64 tỉ đô-la (chiếm tỉ lệ 11% ngân sách quốc phòng).

Thiếu tướng Kornhiuskô I.G và cộng sự

Tạp chí Y học Quân sự Liên bang Nga, 5/2012

Lược dịch: PGS. Trịnh Văn Luận

 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa