Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Áp dụng chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn (damage control) trong ngoại khoa dã chiến


QĐND - Thứ Ba, 17/04/2012, 17:52 (GMT+7)

Chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn (damage control, còn được dịch là phẫu thuật kiểm soát tổn thương) có mục đích phòng ngừa kết quả xấu bằng cách thu hẹp phạm vi phẫu thuật lần đầu (phẫu thuật tối khẩn cấp thu hẹp), sau đó phục hồi các bộ phận bị tổn thương cho đến khi ổn định chức năng của cơ thể.

Chiến thuật này được phổ cập trong phẫu thuật các tổn thương, đã áp dụng trong các bệnh viện thê đội 1 trong chiến dịch chống khủng bố ở Bắc Capcadơ (1999-2002) và thu được kết quả tốt. Chiến thuật này cũng đã được áp dụng trong quân đội Mỹ ở Afghanistan và Iraq. Tuy nhiên cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu việc áp dụng chiến thuật này trong cứu chữa chất lượng cho thương binh. Có 1214 bệnh án đã được xử lý bằng máy vi tính để nghiên cứu các vấn đề sau:

1. Xác định tỉ lệ thương binh cần áp dụng chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn.

2. Xác định cơ cấu phẫu thuật thu hẹp và đánh giá khả năng áp dụng chiến thuật này trong cứu chữa chất lượng cho thương binh.

Cơ sở để áp dụng chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn là những hậu quả đang đe dọa tính mạng của thương binh hoặc những hậu quả và biến chứng nặng sẽ xảy ra trong quá trình vận chuyển thương binh về tuyến sau.

Ảnh minh họa/Mai Hương

Những hậu quả đe dọa tính mạng thương binh là: ngạt thở do tổn thương đầu và cổ, chảy máu liên tục ngoài và trong do tổn thương các bộ phận trong cơ thể, khí phế mạc mở và kín, chèn ép tim, tổn thương nội tạng trong lồng ngực và ổ bụng. Hậu quả đe dọa tính mạng có nhiều khả năng xảy ra trong trường hợp gãy xương dài nhiều chỗ, gãy xương chậu không ổn định mặc dù không kèm theo chảy máu trong.

Tỉ lệ và cơ cấu thương binh thu hẹp phạm vi cứu chữa chất lượng cho 530 thương binh trên tổng số 1214 thương binh (43,7%) trong xung đột vũ trang ở Bắc Capcadơ được trình bày trong bảng sau:  

Vị trí

Loại phẫu thuật thu hẹp

n = 530

Đầu, cổ

Chống ngạt và thông đường thở trên bằng đặt ống khí quản, mở khí quản không điển hình, đặt ống khí quản qua vết thương.

11 (2,1%)

Ngực

Trường hợp chảy máu liên tục trong ổ phế mạc: thắt mạch máu, khâu thành bên mạch máu lớn bị tổn thương, nhồi gạc vết thương. Trường hợp tổn thương phổi: khâu vết thương phổi, cắt phổi không điển hình. Trường hợp không đóng được khuyết thành ngực: nhồi gạc trong ổ phế mạc.

58 (10,9%)  

 

Bụng

Trường hợp chảy máu liên tục trong ổ bụng: thắt mạch máu, hồi phục mạch máu lớn bằng cách khâu thành bên, thay mạch máu nhân tạo tạm thời, cặp mạch máu ở cuống thận, lách... hoặc cắt nếu thận, lách... bị hủy hoại, nhồi gạc ở vùng bị tổn thương gan, khoang sau phúc mạc. Cắt hoặc tạm thời khâu kín một lớp cơ quan rỗng bị tổn thương. Tạm thời khâu da thành bụng một lớp.

228 (43,0%)

Chậu

Gãy xương chậu không ổn định: cố định để vận chuyển bằng khung cố định ngoài.

16 (3,0%)

Đầu, cổ và thân

Cầm máu chảy ngoài bằng thắt, khâu, nhồi gạc vết thương.

30 (5,7%)

Chi

Gãy xương dài nhiều chỗ: cố định để vận chuyển bằng khung cố định ngoài.        

24 (4,5%)

Chi

Cầm máu chảy ngoài bằng thắt, khâu, thay mạch máu nhân tạo tạm thời đối với tổn thương mạch máu lớn.

163 (30,8%)

Trong số các phẫu thuật để khắc phục hậu quả đe dọa tính mạng thương binh, tỉ lệ phẫu thuật do vết thương xuyên bụng chiếm 43%, cầm máu ở các bộ phận 36,5%, do vết thương ngực 10,9%, cố định vận chuyển gãy xương chậu và chi 7,5%, chống ngạt tạm thời 2,1%. Đối với một số tổn thương bụng, ngực tương đối nhỏ đã tiến hành cầm máu ở vết thương phần mềm. Đối với vết thương gãy nhiều chỗ xương dài, xương chậu thì phẫu thuật, cố định, vận chuyển có tính chất tạm thời. Phẫu thuật để khắc phục ngạt thở cũng là tạm thời vì nếu xử trí triệt để ở tuyến cứu chữa chất lượng sẽ xảy ra nhiều biến chứng. 

Khoa Ngoại dã chiến Học viện Quân y Kirôp C.M đã áp dụng chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn cho 18 thương binh và áp dụng phương pháp phẫu thuật cổ điển cho 27 thương binh với mức độ nặng và rất nặng như nhau theo thang điểm ngoại khoa dã chiến. Kết quả so sánh là chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn đã giảm tỉ lệ tử vong 12,3% so với phương pháp phẫu thuật cổ điển.

Chỉ định để thực hiện chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn là tình trạng huyết động không ổn định, chảy máu kéo dài, thương binh có chấn thương phối hợp, cần phẫu thuật tối khẩn cấp ở nhiều bộ phận. Để áp dụng chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn, phẫu thuật viên cần có kinh nghiệm, tiến hành gây mê hồi sức tốt trong và sau khi mổ. Do đó khi áp dụng chiến thuật này ở tuyến cứu chữa chất lượng với khả năng phẫu thuật, gây mê hồi sức, trang bị hạn chế, cần phải đánh giá khách quan mức độ nặng của thương binh và trong trường hợp tiên lượng đắn đo thì chỉ tiến hành cứu chữa đầu tiên do bác sĩ và chuẩn bị để vận chuyển thương binh bằng đường không về tuyến sau. Theo kinh nghiệm của Khoa Ngoại dã chiến Học viện Quân y Kirôp C.M, đối với thương binh có mức độ tình trạng nặng không quá 30 điểm khi điều trị (theo thang điểm đánh giá khách quan mức độ nặng của chấn thương) thì áp dụng chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn đạt được kết quả tốt nhất.

Tóm lại, một trong những phương pháp giảm tỉ lệ tử vong trong việc cứu chữa thương binh là tiếp cận cứu chữa ngoại khoa gần hỏa tuyến, áp dụng chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn trong cứu chữa chất lượng. Tuy nhiên, cần có chỉ định tối ưu khi áp dụng chiến thuật này đối với thương binh nếu không mổ sẽ không thể vận chuyển về tuyến sau hoặc nếu mổ (phẫu thuật ổ bụng, lồng ngực, mạch máu) đòi hỏi phải có khả năng về ngoại khoa và trang bị, kể cả trong trường hợp thu hẹp phạm vi cứu chữa và tỉ lệ tử vong đối với thương binh này khá cao.

Kết luận:

1. Trong xung đột vũ trang, 43,7% thương binh có thể thu hẹp phạm vi cứu chữa để khắc phục hậu quả đe dọa tính mạng thương binh.

2. Chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn cho phép giảm phạm vi, thời lượng can thiệp lần đầu nhưng đòi hỏi phải có khả năng về ngoại khoa, trang bị ở các phân đội quân y tuyến trước và phải có chỉ định tối ưu.

3. Áp dụng chiến thuật phẫu thuật nhiều giai đoạn ở tuyến cứu chữa chất lượng đạt kết quả tốt nhất đối với thương binh có tình trạng bù trừ không quá 30 điểm khi điều trị (theo thang điểm đánh giá khách quan mức độ nặng của chấn thương). Đối với thương binh có tình trạng không bù trừ thì thu hẹp phạm vi cứu chữa (tiến hành cứu chữa đầu tiên do bác sĩ), chuẩn bị để vận chuyển thương binh bằng đường hàng không về tuyến sau.

Đại tá, Giáo sư SAMÔKHVALÔP và CS

Tạp chí Y học Quân sự Liên bang Nga, 9/2011

Lược dịch: PGS. TRỊNH VĂN LUẬN

Chuyển WebQDY: PNĐ-VHN

 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa