Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Y học quân sự và y học thảm họa


QĐND - Thứ Năm, 08/03/2012, 10:47 (GMT+7)

Theo thống kê của các nhà sử học, trong vòng 5,5 nghìn năm gần đây, trên trái đất đã xảy ra 14 nghìn cuộc chiến tranh, 3,5 tỷ người đã chết do chiến tranh và bệnh tật, đói rét. Trong thế kỷ XX, loài người đã phải hứng chịu 2 cuộc chiến tranh thế giới làm cho 60 triệu người chết. Ngoài những tổn thất khổng lồ về người và của, chiến tranh còn để lại hàng trăm nghìn người tàn phế, quả phụ và trẻ em mồ côi, chiến tranh đã gây ra những tổn thất rất lớn về tinh thần và vật chất cho loài người.

Sau năm 1945, quân đội Liên Xô tham gia vào nhiều cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang ở nhiều nước trên thế giới. Nội chiến và xung đột vũ trang còn xảy ra ngay trên lãnh thổ của Liên Xô cũ (Apkhazia, Azecbaizan, Acmeni, Gruzia, Tazhikistan, Bắc Kapkaz).

Trong những năm gần đây, nạn khủng bố quốc tế đã lan ra nhiều nước trên thế giới (Nga, Mỹ, Tây Âu và châu á), gây ra những vụ thảm sát hàng loạt. Hàng vạn phụ nữ, trẻ em, người già vô tội đã vĩnh viễn nằm xuống do những hành động trả thù của bọn khủng bố (tòa tháp đôi ở Mỹ, nổ tàu điện ngầm và tàu hỏa ở Matxcơva, giết hại giáo viên và học sinh ở Beslan…).

Y học quân sự đóng vai trò rất quan trọng trong việc cấp cứu, điều trị những nạn nhân trong các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang và trong thảm họa. Cho đến cuối thế kỷ XIX, khả năng cứu chữa trong quân đội vẫn còn rất thấp; sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của ngoại khoa dã chiến và nội khoa dã chiến, ngành quân y đã áp dụng nhiều phương pháp điều trị mới, góp phần củng cố sức khỏe và sức chiến đấu cho quân đội. Trong thời gian xảy ra chiến sự, cấp cứu và điều trị tại chỗ đóng vai trò rất quan trọng. Để nâng cao hiệu quả điều trị, cần phải chẩn đoán chính xác, phân loại thương binh, bệnh binh (TBBB) và điều trị theo giai đoạn trong quá trình vận chuyển về tuyến sau. Điều này có thể áp dụng không những đối với TBBB trong chiến tranh và trong các cuộc xung đột vũ trang, mà còn cả đối với các nạn nhân khi xảy ra thiên tai, thảm họa.

Một vấn đề khác cũng rất quan trọng đối với y học quân sự, đó là cuộc chiến đối với các bệnh truyền nhiễm. Tính đến thế kỷ XX, số binh lính chết vì các bệnh truyền nhiễm nhiều hơn so với số chết do vũ khí. Cho đến hiện nay, số người mất sức lao động và mất sức chiến đấu do bệnh truyền nhiễm cũng nhiều hơn so với những chấn thương do chiến tranh gây ra. Vấn đề sức khỏe tâm thần cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với quân nhân trong các cuộc chiến. Tinh thần, tâm lý, stress trong chiến đấu, điều trị và phục hồi sức khỏe cho quân nhân là một trong những nhiệm vụ quan trọng của y học quân sự.

Ngoài chiến tranh và xung đột vũ trang, thiên tai, thảm họa là mối đe dọa rất lớn đối với cuộc sống con người. Sự cố nhà máy điện nguyên tử Trecnôbưn xảy ra ngày 26-4-1986 là một thảm họa sinh thái rất lớn của thế kỷ XX, để lại hậu quả rất nặng nề đối với sức khỏe con người và môi trường sống. Quân đội đóng vai trò chủ yếu trong việc khắc phục hậu quả nặng nề của thảm họa này. Ngay từ những giờ đầu tiên xảy ra sự cố tại nhà máy điện nguyên tử, các phi công quân sự, các bác sĩ quân y, các nhà hóa học, kỹ sư và các chuyên gia về năng lượng nguyên tử đã đến ngay nhà máy để khắc phục sự cố và giúp đỡ những người bị nạn. Đối với ngành quân y, nhiệm vụ rất quan trọng và nặng nề là phải phối hợp với ngành y tế và các trung tâm khoa học về phóng xạ để ngăn chặn những hậu quả về y sinh học của quá trình ô nhiễm phóng xạ. Những yếu tố chủ yếu làm tăng hiệu quả cứu chữa của ngành quân y là huy động khẩn cấp lực lượng cần thiết và các phương tiện, thuốc men đến nơi xảy ra thảm họa, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đội cấp cứu ở từng khu vực, nhanh chóng đưa nạn nhân về các bệnh viện chuyên khoa để chăm sóc và điều trị.

Đối với trận động đất xảy ra ngày 7-12-1988 tại thành phố Erevan (Acmeni), ngành quân y đóng vai trò chủ yếu trong việc khắc phục hậu quả. Theo chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, lực lượng và phương tiện cứu chữa của ngành quân y được huy động khẩn cấp, bao gồm: các bệnh viện quân y trung ương, Học viện Quân y Kirov, Bộ môn Y học quân sự của Viện Nâng cao trình độ bác sĩ Trung ương, các quân y viện trực thuộc các quân khu và hạm đội, các phòng thí nghiệm trung ương. Đã thành lập Đội cứu chữa chuyên khoa ngay sau khi xảy ra động đất và đã đến Erevan để tiến hành cứu chữa tại khu vực động đất và tại các cơ sở điều trị của thành phố. Cũng cần phải nhấn mạnh là những người có mặt và tổ chức cứu chữa kịp thời cho nạn nhân ngay sau khi động đất xảy ra là các bác sĩ quân y bởi vì các cơ sở y tế dân sự gần như bị tê liệt hoàn toàn. Sau khi đánh giá tình hình thương vong do động đất, Bộ chỉ huy chiến dịch đã quyết định cứu chữa khẩn cấp ban đầu, cứu chữa chuyên khoa và chuyển thương bằng đường hàng không về các cơ sở điều trị chuyên khoa của các thành phố Erevan, Tbilixi, Lêningrad và Matxcơva. Thời gian từ khi cấp cứu ban đầu đến cứu chữa chuyên khoa không quá 5-6 giờ. Những nỗ lực chính của ngành quân y trong vòng 5-7 ngày đầu sau khi động đất là tập trung cấp cứu, điều trị và chuyển thương. Nhiệm vụ của giai đoạn tiếp theo là tiến hành các biện pháp phòng chống dịch và bảo đảm quân y theo kế hoạch đối với những quân nhân tham gia vào công việc cứu chữa nạn nhân. Các chuyên gia thuộc các cơ sở vệ sinh phòng dịch đặc biệt quan tâm đến việc kiểm tra chất lượng nước uống. Mặc dù tình hình vệ sinh dịch tễ sau động đất cực kỳ căng thẳng, hơn nữa tại nơi xảy ra động đất có ổ dịch cũ về dịch hạch và Tularemia, các bác sĩ quân y đã áp dụng các biện pháp phòng chống dịch, không để dịch bùng phát.

Trận động đất ở Acmeni một lần nữa cho thấy sự cần thiết phải thành lập những đội phản ứng nhanh với đầy đủ trang thiết bị để có thể làm việc độc lập hoàn toàn và xử lý các tình huống phức tạp.

Tai nạn xe lửa xảy ra tại vùng Baskiri ngày 3-6-1989 do 2 đoàn tàu hỏa với 1200 hành khách chạy ngược chiều đâm vào nhau gây ra vụ nổ lớn (theo đánh giá của các chuyên gia, sức nổ tương đương với 250-300 tấn thuốc nổ TNT), tạo thành đám cháy lan rộng tới 250 hecta. Các yếu tố gây tổn thương chủ yếu là sóng va đập, lửa và khí nóng làm cho 95% hành khách bị bỏng độ II-III, một số bị bỏng sâu và bỏng đường hô hấp.

Sau khi xảy ra tai nạn, theo chỉ thị của Tổng cục trưởng Tổng cục Quân y, Học viện Quân y Kirov đã cử các đội cứu chữa chuyên khoa phối hợp cùng với Quân y Quân khu Volga để điều trị cho nạn nhân tại các cơ sở điều trị vùng Ufa (huy động 175 bác sĩ, y tá để cứu chữa chuyên khoa cho nạn nhân tại cơ sở của các quân y viện Kubưsep, Sverlopxkơ và Cheliabinxkơ).

Vấn đề quân y tham gia khắc phục hậu quả trong những vụ thảm họa tự nhiên, thảm họa kỹ thuật quy mô lớn đã được đặt ra trong một số hội nghị quốc gia và quốc tế trong các năm 1989, 1990, 1992. Kết quả đã xác định luận điểm về y học thảm họa cần căn cứ vào học thuyết y học quân sự tổ chức cứu chữa nạn nhân theo nguyên tắc điều trị theo tuyến, trong thời bình tiếp cận tối đa các loại hình cứu chữa đến nơi xảy ra tai nạn gây hậu quả.

Theo học thuyết quân sự của Liên bang Nga được ban hành bởi lệnh của Tổng thống Liên bang Nga ngày 2-11-1993 thì nguy cơ đối với an ninh và hòa bình là chiến tranh khu vực và xung đột vũ trang, có thể phát triển thành chiến tranh quy mô lớn trong những điều kiện nhất định. Tháng 5-1994, Tổng cục Quân y Quân đội Liên bang Nga đã tổ chức diễn tập về việc cứu chữa TBBB và bảo đảm quân y trong chiến tranh cục bộ và xung đột vũ trang. Kết quả diễn tập đã được đưa ra thảo luận tại hội nghị mở rộng Hội đồng Chuyên viên Tổng cục Quân y lần thứ 35. Hội nghị đã kịp thời chấp nhận luận thuyết về tổ chức bảo đảm quân y trong các cuộc xung đột vũ trang quy mô hạn chế.

Lực lượng quân y đã làm tốt các nhiệm vụ cứu chữa TBBB trong cuộc chiến ở nước Cộng hòa Cheshnia (tháng 11-12 năm 1994). Một trong những đặc điểm tổ chức hệ thống bảo đảm quân y tại đây là thành lập một tổ chức đặc biệt, không thuộc tổ chức của đơn vị, được sử dụng để bảo đảm cho đơn vị trong những tình huống khẩn cấp, đó là tổ chức đội quân y đặc nhiệm. Các đội quân y đặc nhiệm đã áp dụng các biện pháp cấp cứu và cứu chữa chuyên khoa cho TBBB, tổ chức chuyển thương bằng đường hàng không, điều trị phục hồi cho thương binh nhẹ trong vùng xảy ra xung đột vũ trang.

Trong cuộc chiến ở Groznưi (tháng 1-2 năm 1995), 3 đội quân y đặc nhiệm số 660, 529, 532 đã thu dung 3271 thương binh và 1323 bệnh binh, đã phẫu thuật 1162 thương binh (35,5% so với tổng số thương binh). Trung bình mỗi ngày, mỗi đội thu dung 50-70 TBBB và phẫu thuật 10-15 thương binh.

Kinh nghiệm trong chiến tranh khu vực đã chứng minh tổ chức quân y đã tiếp cận TBBB, do đó đã nâng cao chất lượng cấp cứu ở trận địa và cứu chữa ở các tuyến quân y, đã mở rộng được phạm vi cứu chữa chuyên khoa. Trong những điều kiện ở Tresnhia đã thực hiện các biện pháp: áp dụng luận thuyết cấp cứu chuyên khoa và cứu chữa chuyên khoa sớm, tăng cường vận chuyển TBBB trong khu vực chiến thuật và chiến dịch bằng đường không, cứu chữa và điều trị phục hồi chức năng cho TBBB nhẹ trong phạm vi tuyến đơn vị và tập đoàn quân.

Các biện pháp tiếp cận như trên có thể thực hiện trong khắc phục hậu quả thảm họa với quy mô khác nhau ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Trong thời gian từ tháng 6-1999 đến tháng 3-2003, Đội quân y đặc nhiệm số 20 của Quân khu Matxcơva cùng với Quân đội Nga đã làm nhiệm vụ bảo vệ hòa bình ở Kôsôvô. Với quân số 75 người, đội có thể thu dung 150 TBBB trong 1 ngày đêm. Đội đã cứu chữa chất lượng và chuyên khoa cho quân đội Nga, dân địa phương và nhân viên của phái đoàn Liên hiệp quốc ở Kôsôvô. Trong thời gian công tác, đội đã cứu chữa cho 25.000 người, trong đó 3000 người được điều trị nội trú, đã phẫu thuật 1400 trường hợp, trong đó có hơn 400 ca phức tạp.

Ngày 26-12-2004 xảy ra trận động đất lớn ở một số nước Đông Nam á (Srilanka, ấn Độ, Indonesia), gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản (khoảng 300.000 người chết và mất tích). Theo sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga, Quân khu Uran-Volga đã cử Đội quân y đặc nhiệm đến vùng bị động đất (đảo Sumatria của Indonesia) để cứu giúp những người bị nạn và làm công tác phòng chống dịch bệnh sau động đất. Đội quân y đặc nhiệm đã nghiên cứu đặc điểm địa lý y tế, tình trạng vệ sinh dịch tễ, tình hình chính trị - kinh tế trên đảo, dự kiến tính chất và cơ cấu tổn thất về người do thảm họa. Tư liệu thu thập được đã xác định phần lớn tổn thất gây nên bởi bệnh truyền nhiễm, kể cả bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm, do đó đã cơ cấu lại thành phần chuyên khoa của đội. Các bác sĩ quân y Nga đã cấp cứu và điều trị cho hơn 4000 nạn nhân, tiêm vacxin phòng bệnh cho nhân dân, thực hiện nhiều ca phẫu thuật phức tạp. Trong thời gian công tác, đội đã tiếp đón các đoàn đại biểu của Tổ chức Y tế thế giới và các nước, được nhận xét là đơn vị được trang bị đầy đủ nhất. Toàn bộ trang bị kỹ thuật của đội trị giá 208 triệu rúp đã được chuyển giao không hoàn lại cho địa phương theo đề nghị của Chính phủ Indonesia.

Từ luận thuyết y học quân sự về y học thảm họa, Quân y Nga đã thành lập ở trong nước tổ chức phòng chống các loại thảm họa, đồng thời hoàn thiện mô hình sử dụng đội quân y đặc nhiệm trong các cuộc xung đột vũ trang với quy mô khác nhau dựa trên hệ thống điều trị theo tuyến, vận chuyển theo chỉ định. Quân y Nga không những hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình ở trong nước, mà còn làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều gia đình thuộc nhiều nước trên thế giới.

Thượng tướng, Giáo sư CHIZH I.M
Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Y học Liên bang Nga
Lược dịch: PGS. Trịnh Văn Luận, TS. Phạm Xuân Ninh




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa