Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Quân y Hồng quân trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945)


QĐND - Thứ Năm, 08/03/2012, 10:47 (GMT+7)

 

Quân y Hồng quân trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại

 

Khi bắt đầu cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, Hồng quân Liên Xô bị tấn công bất ngờ và đã bị tổn thất nặng nề. Ngay trong 6 tháng đầu đã có 2 triệu thương binh, bệnh binh nhập viện. Tình hình càng thảm hại hơn vào cuối mùa hè năm 1941, quân địch đã chiếm và tiêu hủy hơn 1/3 các cơ sở phân đội quân y, kho quân y và nguồn dự trữ động viên. Phần lớn cán bộ, nhân viên được động viên cho lực lượng quân y không có kinh nghiệm công tác trong điều kiện chiến đấu.

Trong những năm trước chiến tranh, Quân y Hồng quân đã tiến hành nhiều biện pháp củng cố trên cơ sở kinh nghiệm của những năm 1939-1940, nhưng đến khi chiến tranh xảy ra, nhiều việc vẫn chưa thực hiện được. Mặc dù có nhiều khó khăn chồng chất, nhưng Quân y Hồng quân đã có khả năng trong một thời gian ngắn triển khai mạng lưới phân đội cơ sở quân y rộng khắp kịp thời cứu chữa thương binh, bệnh binh ở tiền tuyến và hậu phương.

Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong những ngày đầu chiến tranh là nhanh chóng triển khai lực lượng, phương tiện quân y. Đã động viên vào quân đội hàng nghìn bác sĩ, y sĩ, y tá, tăng số giường bệnh, tổ chức các bệnh viện, trước hết là bệnh viện dã chiến và các cơ sở quân y khác, trang bị vật tư và các phương tiện vận chuyển cần thiết.

Chịu trách nhiệm về tất cả các việc trên là Cục Quân y và chỉ huy Quân y Hải quân. Do tình huống ngoài mặt trận thay đổi nhanh chóng nên Cục Quân y đã phải tách ra một bộ phận chỉ huy bên cạnh Bộ Tổng Tham mưu. Khi thủ đô Matxcơva bị đe dọa, Cục Quân y đã phải tách ra 3 bộ phận chỉ huy ở Matxcơva và Kuibưxep. Do tổ chức phân tán như vậy nên công tác chỉ huy gặp nhiều khó khăn. Mãi đến đầu tháng 11-1941, công tác của Cục Quân y mới đi vào nề nếp. Chưa đầy 6 tháng đã tổ chức được 291 tiểu đoàn quân y, 94 đại đội quân y ở các lữ đoàn, 380 bệnh viện cơ động, 38 đại đội quân y tăng cường, 12 bệnh viện điều trị thương binh, bệnh binh nhẹ, 37 bộ phận chỉ huy các hướng vận chuyển, 79 cơ sở tiếp nhận ở các nhà ga, bến cảng.

Một trong hàng loạt những nhiệm vụ phức tạp và đầy trách nhiệm mà Cục Quân y phải giải quyết là khẩn trương di chuyển phần lớn các bệnh viện về hậu phương quốc gia trước nguy cơ bị xâm chiếm. Theo tư liệu của Cục trưởng Cục Quân y Smiêcnôp E.I, chỉ trong hai tháng 6 và 7 năm 1941 đã di chuyển 140 bệnh viện với tổng số 57.000 giường bệnh, do đó đã bảo vệ được cán bộ, nhân viên và phương tiện để chuẩn bị cho các chiến dịch tiến công sau này.

Trong những điều kiện vô cùng khó khăn, Cục Quân y đã phải khẩn cấp giải quyết một loạt các vấn đề có tính nguyên tắc về bảo đảm điều trị, vận chuyển. Đã đặc biệt quan tâm đến vận chuyển thương binh ra khỏi trận địa. Trước tình hình quân địch tiến công, Hồng quân rút lui, số lượng thương binh nhiều, các phân đội cơ sở quân y thiếu 40% so với nhu cầu. Việc giải quyết vấn đề trên có ý nghĩa sống còn. “Không được để sót một chiến sĩ, cán bộ chỉ huy nào bị thương tại trận địa. Đó là điểm chính trong chiến đấu phòng ngự cơ động”. Đây là chỉ thị của Cục trưởng Cục Quân y ngày 16-7-1941. Ngày 23-8-1941, theo đề nghị của Cục Quân y, ủy ban Quốc phòng nhân dân đã ra lệnh “về quy định khen thưởng của Nhà nước đối với y tá, tải thương có thành tích trong chiến đấu”. Lệnh này đã có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện tình hình cấp cứu ở quân y đơn vị. Hàng chục nghìn nhân viên quân y sơ cấp đã được tặng Huân chương Lênin, Huân chương Cờ Đỏ, Huân chương Sao Đỏ và các loại huân chương khác.

Về thành tựu của Quân y Hồng quân, phải kể đến công tác cứu chữa ngoại khoa vì đúng như Pirogôp N.I đã khẳng định: “Chiến tranh là dịch chấn thương”. Công tác cứu chữa ngoại khoa không chỉ có mục đích nhanh chóng trả thương binh về đơn vị, mà còn có mục đích xa hơn là hạ thấp tỉ lệ tàn phế để khôi phục đất nước sau chiến tranh. Sau hơn 6 thập kỷ, ngày nay mới có thể đánh giá kết quả điều trị phục hồi trong thời kỳ chiến tranh. Trong suốt cuộc chiến tranh, có 3,8 triệu thương binh, bệnh binh phải giải ngũ, trong đó có 2,5 triệu người tàn phế.

Phải kể đến thành tựu về ngoại khoa dã chiến trong thời kỳ chiến tranh dưới sự hướng dẫn của các chuyên viên đầu ngành ở các phương diện quân, tập đoàn quân, hướng vận chuyển đối với các cơ sở điều trị. Tất cả các chủ nhiệm khoa thuộc khối ngoại của các học viện quân y được chỉ định làm chuyên viên đầu ngành về ngoại khoa ở các phương diện quân và tập đoàn quân. Cuối năm thứ tư của cuộc chiến tranh vệ quốc, trong số các phẫu thuật viên đầu ngành ở các phương diện quân có 75% là tiến sĩ khoa học và 83,3% là giáo sư.

Trên cơ sở những kinh nghiệm tích lũy được về điều trị ngoại khoa đối với vết thương hỏa khí, đã xác định sự cần thiết phải phân biệt xử trí ngoại khoa kỳ đầu để nâng cao chất lượng cứu chữa ngoại khoa, trả nhanh thương binh về đơn vị. Đã tiến hành nghiên cứu cơ chế sốc chấn thương, biện pháp điều trị nhiễm khuẩn yếm khí, tổ chức điều trị thương binh nhẹ, biện pháp phục hồi chức năng đối với các trường hợp tổn thương chi thể. Đã tổ chức dự trữ các thành phẩm của máu trong điều kiện dã ngoại.

Một thành tựu nổi bật của y học quân sự là đã tổ chức được hệ thống cứu chữa chuyên khoa, do đó đã thực hiện được hệ thống điều trị thương binh theo tuyến kết hợp với vận chuyển theo chỉ định. Trong số hơn 14,6 triệu thương binh, Quân y Hồng quân đã trả về đơn vị chiến đấu hơn 10,5 triệu người (72%). Lĩnh vực nội khoa dã chiến đã được xây dựng thành hệ thống tổ chức trong những năm chiến tranh. Hệ thống này gồm có các bộ phận điều trị ở các tiểu đoàn quân y, khoa nội trong các bệnh viện điều trị thương binh nhẹ, bệnh viện nội khoa dã chiến, bệnh viện truyền nhiễm trong các cụm bệnh viện của tập đoàn quân, phương diện quân, bệnh viện da liễu, bệnh viện tâm thần kinh. Trong tất cả các bệnh viện ngoại khoa đều có biên chế bác sĩ nội khoa. Trong số hơn 7,6 triệu bệnh binh, đã trả về đơn vị chiến đấu hơn 6,6 triệu người (87%).

Trong hệ thống bảo đảm quân y của Hồng quân, công tác bảo đảm vệ sinh phòng dịch có liên quan chặt chẽ với công tác điều trị và vận chuyển. Ngay trong những tháng đầu của cuộc chiến tranh, Cục trưởng Cục Quân y Xmiêcnôp E.I đã nhấn mạnh trong cuộc họp Hội đồng chuyên viên: “Chúng ta không được để cho bệnh truyền nhiễm trong quân đội trở thành dịch”. Hệ thống vệ sinh phòng dịch bảo vệ sức khỏe quân đội đã hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện vô cùng khó khăn. Khi quân địch tiến công vào lãnh thổ, một số lượng lớn dân cư phải di chuyển khỏi các vùng bị chiếm, tình hình vệ sinh trong nhân dân cũng như trong quân đội ngày càng xấu. Nguy cơ xảy ra dịch càng lớn trong thời kỳ Hồng quân giải phóng các vùng bị chiếm đóng, khi quân địch để lại cảnh tàn phá dã man. Theo thống kê, số người bị bệnh thương hàn trong chiến tranh là 24.000 (thực tế con số này chắc còn cao hơn nữa).

Những thành tựu về quân y không thể có được nếu không có công tác nghiên cứu khoa học các vấn đề bảo đảm quân y cho quân đội và hải quân. Trong chiến tranh, một số lượng lớn chuyên gia có trình độ đã được động viên vào hàng ngũ quân y: 4 viện sĩ, 22 nhà khoa học ưu tú, 275 giáo sư, 558 phó giáo sư, 306 tiến sĩ, 1199 phó tiến sĩ. Học viện Quân y Kirôp S.M đã đào tạo trong chiến tranh 1800 bác sĩ, Viện Đào tạo chuyên viên đã đào tạo chuyên viên cho các phương diện quân, tập đoàn quân...

Sự giúp đỡ của ngành Y tế đối với Quân y Hồng quân thật là to lớn. Bộ Y tế chịu trách nhiệm tổ chức tuyến điều trị cuối cùng cho những thương binh, bệnh binh nặng nhất, đã triển khai trên lãnh thổ các nước cộng hòa mạng lưới bệnh viện chuyên khoa rộng khắp. Trong chiến tranh, đã động viên từ ngành Y tế 165.000 người, trong đó có 80.000 bác sĩ, 57.000 y sĩ (phense), 11.000 dược sĩ, 17.000 chuyên gia khác.

Những sự kiện kể trên đã nói lên phần nào ý nghĩa về những thành tựu của Quân y Hồng quân trong cuộc chiến tranh tàn khốc của thế kỷ XX. Thực tế đã chứng minh: lần đầu tiên trong lịch sử y học quân sự, ngành Quân y từ nhiệm vụ thu dung điều trị thương binh, bệnh binh đã làm cả nhiệm vụ bảo đảm nguồn nhân lực cho quân đội. Trong chiến tranh, có hơn 17 triệu thương binh, bệnh binh trở về đơn vị chiến đấu. Theo tư liệu, quân số của Hồng quân ở các mặt trận trong chiến tranh là 3,4-6,7 triệu người. Như vậy, các cơ sở quân y đã trả về đơn vị số sĩ quan, binh sĩ có kinh nghiệm chiến đấu nhiều gấp 3 lần quân số của các mặt trận. Ngành Quân y còn góp phần động viên tinh thần cho quân đội khi bên cạnh người lính có chiến sĩ quân y với túi thuốc và phương tiện sẵn sàng cứu giúp họ.

Để đạt được những kết quả trên, đội ngũ quân y đã phải trả giá bằng những hy sinh mất mát to lớn. Theo tư liệu của các phương diện quân, đội ngũ quân y bị tổn thất 210.601 người, trong đó số chết và mất tích là 84.793 người (40,3%). Số nhân viên quân y sơ cấp ở trận địa bị tổn thất nhiều nhất (88,2% so với tổng số tổn thất).

Trải qua hơn 65 năm, những kinh nghiệm bảo đảm của Quân y Hồng quân vẫn còn có ý nghĩa khoa học thực tiễn đối với y học quân sự hiện đại.

 

Kinh nghiệm đối với Quân y Việt Nam

 

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Bộ Quốc phòng và trực tiếp là Tổng cục Cung cấp (Tổng cục Hậu cần ngày nay), ngành Quân y đã được xây dựng từ Ban Y tế Vệ quốc đoàn thành một tổ chức tập trung thống nhất với 5 hệ thống tổ chức bảo đảm (tổ chức chỉ huy, vệ sinh phòng dịch, điều trị - vận chuyển, tiếp tế quân y, huấn luyện - nghiên cứu khoa học). Đã xác định những vấn đề cơ bản của công tác bảo đảm quân y (2 nhiệm vụ cơ bản, 5 phương châm xây dựng ngành, 5 mặt công tác). Đã tạo được nguồn nhân lực bằng nhiều biện pháp sáng tạo. Đặc biệt đã xây dựng được lý luận về bảo đảm quân y thống nhất trong toàn ngành từ miền Bắc đến miền Nam.

Thành tựu lớn nhất mà ngành Quân y Việt Nam đạt được là đã thu dung cứu chữa và trả về đơn vị chiến đấu hàng chục vạn thương binh và hàng triệu bệnh binh, góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Là một chuyên ngành y học quân sự, Quân y Việt Nam đã thừa kế có chọn lọc những thành tựu của y học và y học quân sự, trước hết là y học quân sự Xô Viết; và đã nhận được sự chi viện to lớn về vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa.

Thắng lợi của chiến dịch Biên Giới 1950 đã tạo điều kiện để ngành Quân y được tiếp cận với kinh nghiệm của y học quân sự các nước xã hội chủ nghĩa thông qua các cố vấn Trung Quốc Lâm Quân Tài và Vu Thúc Thanh. Tại Hội nghị Quân y toàn quân lần thứ IX (16-2-1951), từ kinh nghiệm xây dựng ngành qua 5 năm kháng chiến kết hợp với kinh nghiệm của Quân y Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, đã thông qua một loạt đề án có tính chất cơ bản cho toàn ngành.

Đó là hệ thống tổ chức biên chế ngành Quân y: Cục Quân y, cơ sở trực thuộc, phòng quân y quân khu, phòng quân y đại đoàn, nội dung các mặt công tác nghiệp vụ quân y, tổ chức cứu chữa vận chuyển thương binh, bệnh binh, bậc thang điều trị, tổ chức đội điều trị đại đoàn, đội điều trị Cục Quân y, kho thuốc dã chiến cơ động, điều lệ xử trí vết thương chiến tranh, xây dựng cơ số tiếp tế cho từng tuyến, cơ số thương binh, bệnh binh. Lần đầu tiên đề cập 5 phương châm y học cách mạng.

Hội nghị Quân y toàn quân lần thứ IX đã đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của toàn ngành cả về tư tưởng và tổ chức, đã phát huy kết quả trong công tác bảo đảm quân y cho các chiến dịch lớn tiếp theo, đặc biệt là trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Ngành Quân y còn tiếp tục tiếp thu kinh nghiệm về y học và y học quân sự qua các đoàn chuyên gia quân y các nước xã hội chủ nghĩa và qua các đoàn cán bộ quân y Việt Nam được cử đi học tập ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1950, lần đầu tiên bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ và bác sĩ Nguyễn Sĩ Quốc được Đảng và Chính phủ cử đi học tập ở Liên Xô về ngoại khoa và sốt rét.

Bắt đầu từ năm 1956 đến năm 1959, 2 đoàn chuyên gia Bungari đã lần lượt đến giúp Viện Quân y 108, xây dựng các khoa ban và giúp giải quyết các di chứng vết thương chiến tranh trong kháng chiến chống Pháp.

Năm 1962, Viện Nghiên cứu Y học quân sự (nay là Học viện Quân y) đã được đoàn chuyên gia Bungari đến giúp đỡ xây dựng các bộ môn y học quân sự, tổ chức và chiến thuật quân y, ngoại khoa dã chiến, nội khoa dã chiến, phòng hóa phòng nguyên...

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954) và các năm tiếp theo, năm nào cũng có các đoàn cán bộ quân y đi học tập bổ túc, nghiên cứu sinh tại Học viện Quân y Kirôp S.M (Liên Xô) và các nước xã hội chủ nghĩa. Hầu hết cán bộ chủ chốt của cơ quan, cơ sở trực thuộc Cục Quân y, cán bộ quân y của các quân chủng, quân khu, quân đoàn lần lượt được cử đi học tập ở nước ngoài.

Tất cả các chuyên ngành y học quân sự Việt Nam đều được xây dựng bởi các cán bộ được đào tạo ở Liên Xô: tổ chức và chiến thuật quân y, ngoại khoa dã chiến, nội khoa dã chiến, vệ sinh quân đội, dịch tễ học quân sự, phòng hóa phòng nguyên, độc học quân sự, tiếp tế quân y, quân y hải quân, quân y không quân... Riêng chuyên ngành tổ chức và chiến thuật quân y chịu ảnh hưởng của y học quân sự Xô Viết rất lớn: 2 nhiệm vụ cơ bản, nhiệm vụ và phạm vi cứu chữa của các tuyến, triển khai các tuyến quân y, tổ chức quân y thời bình, cơ số trang bị quân y...

Sự giúp đỡ của quân y Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa về tinh thần cũng như vật chất đã góp phần xây dựng ngành Quân y Việt Nam ngày càng lớn mạnh, hoàn thành nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Quân y Việt Nam đã kế thừa có chọn lọc những thành tựu của y học quân sự thế giới, trước hết là của y học quân sự Xô Viết, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tránh giáo điều rập khuôn. Tổ chức cứu chữa theo tuyến, vận chuyển theo chỉ định với các nguyên tắc thống nhất, liên tục, kế tiếp là một thành tựu của Quân y Hồng quân đã được quân y nhiều nước áp dụng, kể cả trong khắc phục thảm họa. Tổ chức và nhiệm vụ các tuyến cứu chữa đã được Quân y Việt Nam xây dựng phù hợp với đặc điểm chiến trường và hình thức tác chiến của Quân đội Việt Nam. Qua các cuộc kháng chiến, đã xây dựng được 3 nguyên tắc đặc thù tổ chức bảo đảm quân y là: bảo đảm quân y theo tuyến, bảo đảm quân y theo khu vực và kết hợp quân dân y.

Những kinh nghiệm của Quân y Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến nay vẫn còn giá trị góp phần xây dựng ngành Quân y trong giai đoạn mới ngày càng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

 

PGS. Trịnh Văn Luận

 

 

Đại tá, nguyên chuyên viên tổ chức chỉ huy quân y

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

 

1) Cục Quân y: Lịch sử Quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập I - Tổng cục Hậu cần xuất bản, Hà Nội, 1991.

2) Cục Quân y: Lịch sử Quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập II - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995.

3) Cục Quân y: Lịch sử Quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, tập III - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996.

4) Cục Quân y: Quá trình hình thành và phát triển của chuyên ngành tổ chức và chỉ huy quân y Quân đội nhân dân Việt Nam, 2008.

5) Bêlêvêtin A.B: Quân y Hồng quân trong chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945) - Tạp chí Y học quân sự Liên bang Nga, 4-2010.

6) Trigiơ I.M: Chiến tranh và y học - Tạp chí Y học quân sự Liên bang Nga, 5-2010.

 




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa