Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Giáo sư Trương Công Trung, Anh hùng lao động, nguyên Hiệu trưởng ĐH Y Dược TP.HCM)


GS Trương Công Trung, người Thầy kính yêu của nhiều thế hệ bác sĩ ngọai khoa, sau thời gian nằm bệnh, đã vĩnh viễn ra đi ngày 20.10.2006, để lại cho các thế hệ đi sau không chỉ là lòng tiếc thương mà còn tấm gương sáng chói về y đức của người Thầy giáo, Thầy thuốc.

Từ bưng biền đến chiến khu D

Thuộc dòng dõi vị Anh hùng dân tộc Trương Công Định, GS.TS. Trương Công Trung nguyên quán Tiền Giang (Mỹ Tho). Lớn lên theo học Trường Collège Mỹ Tho, nơi xuất thân của nhiều vị lãnh đạo của đất nước. Tháng 8.1945, đang là một sinh viên Y5, theo tiếng gọi của tổ quốc, đã cùng anh em trên những chiếc xe đạp “thồ”, xuôi Nam tham gia kháng chiến 9 năm. Thầy lần lượt nhận nhiệm vụ Viện Trưởng Quân Y, viện phân liên khu miền Tây Nam Bộ, Đội trưởng đội phẫu thuật lưu động Quân khu, tham gia hầu hết các chiến dịch trên khắp chiến trường quân khu 9 (Long Châu Hà I, II; Sóc Trăng I, II; Tân Hưng , Cà Mau, cùng các trận đánh vang dội của Tiểu đoàn 307...)

Khu kháng chiến của rừng U Minh thượng, căn cứ quân Y được che phù bởi rừng cây um tùm, tàn cây lá che kín bầu trời, đến nỗi ban ngày chỉ còn ánh sáng mờ ảo. Rừng U Minh, trời mưa tầm tã, Thầy đã cùng với dân quân gian khổ dịch bệnh. Với bao sáng kiến được Thầy đề xuất vận dụng trong những năm tháng thiếu thốn, chốn bưng biền đã được phổ biến rộng rãi trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thầy nghĩ ra kế sách giăng “mùng vải xô” để mổ trong điều kiện khó khăn do nhiều đợt càn quét của giặc Pháp, sử dụng tơ tằm để se lại thành chỉ phẫu thuật, lấy trái dừa xiêm của miền Nam làm dịch truyền và sử dụng truyền máu hoàn hồi, nơi không còn thứ gì để thay thế được. Dùng mật ong thay băng các vết thương nhiễm trùng nặng... đã mang lại thành công mỹ mãn. Trong tất cả các mùa chiến dịch của tháng năm kháng chiến, anh em bộ đội rất mến yêu người anh cả với tâm sự: “Hãy vững dạ xung phong bởi vì có anh ba Trung cùng ra trận”.

Năm 1954, Thầy tập kết ra Bắc để hoàn thành luận án tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa tại ĐH Y Khoa Hà Nội. Năm 1955, sang Liên Xô lấy bằng Phó Tiến sĩ. Sau khi về nước, năm 1961-1964, Thầy được bổ nhiệm lần lượt làm: Tổng chủ nhiệm Khoa Ngoại BV 108 - Hà Nội, Phó Viện Trưởng Học Viện Quân Y, Chủ nhiệm Liên khoa Ngoại BV 103 Hà Đông - cùng tham gia chương trình đào tạo các BS chuẩn bị cho chiến trường miền Nam (B2 ) sau này. Năm 1964, từ bến phà Bính - Hải Phòng, Thầy ra đi trên con tàu “định mệnh”, con tàu “thần thoại”- “con tàu không số” mang theo 4 cán bộ Quân Y cùng 14 đồng chí đặc công và áp tải. Thầy đã trở lại chiến trường miền Nam theo đường Hồ Chí Minh trên biển.

Với những con con tàu “không số”, có 2 phương án đối phó khi bị địch phát hiện: Nếu đến gần sát khoảng 300 mét, dùng mìn “phá hủy sắt thép” tấn công tàu đối phương. Nếu tàu bị phát hiện ở khoảng cách xa hơn và không còn đường thoát, thì đồng chí bí thư chi bộ kiêm thuyền trưởng sẽ ấn nút màu đỏ, phía dưới tay lái để hủy tàu, bởi vì ngoài các cán bộ xuôi Nam, bên dưới tàu còn chở theo lượng vũ khí về nam cho bộ đội chính qui và du kích địa phương dùng trong 3 năm.

Cuộc hành trình đưa Thầy trở lại nơi chôn nhau cắt rốn như một định mệnh. Suốt 1 tuần lênh đênh trên mặt biển, tàu 2 lần phải đổi hướng và 1 lần lẫn trốn. Thật vô cùng may mắn! cuối cùng, con tàu cũng rẽ khuất vào ngã ba, nơi nhánh con sông đổ ra biển. 21h, tàu cập được bến sông Đốc thân thương. Rồi từ đấy, mỗi người mỗi ngã, trên mọi nẻo đường gian nan của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có thể anh em sẽ không còn được gặp lại nhau.

Sau chiến thắng Bình Giã, tháng 6.1964, Thầy về căn cứ chiến khu Đ nhận chức vụ Hiệu Trưởng trường Quân Y miền Nam (phiên hiệu là H24). Chiến thắng vang dội của chiến trường Plây-me, Bầu Bàng, Dầu Tiếng... của quân đội giải phóng miền Nam , Trường ĐH Quân Y miền (H24) cũng ào ạt ra quân, với các khóa đào tạo BS chiến trường trong căn cứ chiến khu đồng Rùm. Chưa thể hình dung hết nỗi gian khổ của Thầy trò trường Quân Y nói riêng, Trường Y trong kháng chiến nói chung. Đội ngũ trí thức cách mạng ấy dạy và học trong những mái trường làm bằng cây, lá rừng, lại phải tải lương, trồng trọt để tự nuôi sống nhau trong sự thiếu thốn gian khổ và luôn đặt mình trong cảnh giác tránh địch.

Trong nhiều năm liền, căn cứ chiến khu Đ đã trở thành mục tiêu phong tỏa của địch. Sáu giờ sáng ngày 26.5.1969, đài BBC đưa tin: “24 đợt oanh kích B.52 của không lực Mỹ, căn cứ chiến khu Đ của Cộng sản đã bị xóa sổ. Trung tâm đào tạo BS quân Y miền Nam tại đây và các cán bộ chủ chốt của Trường thuộc chiến khu này đã thiệt mạng”. Tưởng Thầy đã hy sinh, tiếc thương người Anh cả trong Quân Y chiến trường miền Nam gian khổ!!! hàng chục lá thư chia buồn gởi đến, nhưng lần ấy Thầy không chết mà chỉ bị bỏng nặng.

Bị tấn công và càn quét liên tục của Mỹ, Thầy trò Trường Quân Y Miền vừa cõng trên vai vật dụng y tế, vừa cáng thương binh, vừa dẫn đoàn tùy tùng của bệnh viện thực tập giả chiến, cùng các thai phụ lần lược di chuyền từ địa điểm này sang địa điểm khác, âm thầm xuyên rừng, lội suối... dời sang đất bạn Campuchia. Khó có thể hình dung đoàn thai phụ cột khăn rằn vào bụng, chừa 1 đoạn dài để người sau nắm lấy người trước, hòng khỏi thất lạc và kiểm soát nhau khi đi trong rừng sâu tránh địch. Ngày đi, đêm nghỉ, chạy chữa, đỡ đẻ... Vô cùng cảm kích và xúc động, các bà mẹ vừa sinh con, không thể được nghỉ ngơi, lại phải tự mình đeo vác ba lô, bế con tiếp tục lên đường.

30 năm trải dài tưởng chừng như bất tận... cho đến ngày miềm Nam hoàn toàn giải phóng. Đại tá bốn sao “Trương Công Trung” tiếp quản Quân Y viện Trần Ngọc Minh (nay là BV Nhân dân 115) và Trường Quân Y của Sài Gòn cũ. Ngày 30.12.1975 Thầy sang giữ nhiệm vụ Giám Đốc Quân Y viện 175 (tức Tổng Y viện Cộng Hoà cũ).

Ngày 12.7.1976, xếp lại bộ đồng phục màu xanh lá cây mang quân hàm đại tá quân đội nhân dân đã phai màu từ trong kháng chiến, Thầy về nhận nhiệm vụ Hiệu Trưởng Đại Học Y Dược, một Trường Đại Học với truyền thống đào tạo quy củ và nổi tiếng nhất nhì của đất nước, đến nay vừa tròn 60 năm tuổi (1947).

Anh hùng lao động thời bình

Năm 1998, GS Trương Công Trung được phong Anh hùng lao động. Tin này làm náo nức lòng đồng đội, đồng chí và đồng nghiệp. Ngày thành phố tuyên dương anh hùng, Thầy đã yếu hẳn. Sau hơn nửa thế kỷ lặn lội ở khắp suối rừng của chiến trường Nam bộ, Thầy đã cứu sống biết bao đồng đội, đã đào tạo bao nhiêu người học trò y khoa, từ chiến khu trong điều kiện vô vàn thiếu thốn!

Là một phẫu thuật viên có trái tim nồng nhiệt, khẳng khái và dũng cảm. Dưới làn tên, lửa đạn, Thầy đã đem lại mạng sống cho nhiều đồng đội, cán bộ cao cấp của Miền, kể cả các bệnh nhân là các chuyên gia nước ngoài công tác tại Việt Nam trong thời buổi ấy.

Nhắc đến GS Trương Công Trung, người Thầy kính yêu của nhiều thế hệ học trò trường Y, người ta thường nhắc đến các danh hiệu cao quý giáo sư - tiến sĩ, bác sĩ, nhà giáo nhân dân - anh hùng lao động, nhưng với chúng tôi cái tên được yêu kính nhất trong lòng vẫn là “Thầy ba Trung”, người Thầy với tất cả lòng chính trực, chân tình, bao dung. Thầy là người con ưu tú, thủy chung, son sắc. Thầy giáo mẫu mực, vừa hàn lâm vừa giản dị, dễ gần gũi. Tiếp xúc với mọi người, hai tiếng “đồng chí” luôn trên môi Thầy, sâu đậm, xuất phát tự đáy lòng. Với Thầy, tôi có nhiều kỹ niệm, những chuyện cách đây hơn 20 năm mà như vừa xảy ra hôm qua...

Trong tuần lễ cùng Thầy đi dạy ở Đại học Y Cần Thơ, năm 1982. Anh em chúng tôi có 3 đứa (BS.Công Minh, Đỗ Hải và Trần Hùng) cộng thêm chú sáu tài xế. Hồi ấy ai cũng khó khăn về kinh tế, thấu hiểu nỗi niềm trên, Thầy đem theo đủ mọi thứ, từ bếp điện nấu nước, bình pha cà phê đến nước trà chuẩn bị sẵn trong chiếc xe cũ kỹ của Thầy. Đến nơi, Thầy trò chúng tôi ở chung trong nhà khách tỉnh ủy, của khu Cái Răng, tại đây chỉ có điện 110 volt, đích thân Thầy phải đi mượn lò điện khác về nấu.

Mỗi sáng trước khi đi vào bệnh viện, Thầy trò chúng tôi mỗi người 1 gói xôi, 1 ly cà phê và 1 trái chuối (do chính Thầy chuẩn bị). Chiều về BS Dũng mời ăn tiệc, 3 Anh em trẻ chúng tôi đi tiệc, bỏ 2 ông già ở nhà ăn cơm một mình. Lúc chúng tôi bước ra cửa, Thầy còn dặn thêm: “Các đồng chí ăn no nghe, ở đây không có bán đồ ăn tối như trên thành phố đâu”.

Tuy nói vậy nhưng tấm lòng người cha thương yêu các con vẫn không yên, khi chúng tôi vừa đi, Thầy bảo chú sáu mua 5 gói mì ăn liền, để sẵn. Đợi chúng tôi về, Thầy kêu lấy phích nước nóng ra trụng mì ăn thêm. Tháng ngày lặng lẽ trôi đi... Thầy ơi! những đêm trực khuya, những chuyến công tác xa, hình ảnh tô mì bốc khói hơn 20 năm trước của Thầy cứ làm tôi xúc động mãi.

Cũng trong chuyến đi lần đó, trên đường về Thành phố Hồ Chí Minh, BS Trần Hùng đề xuất ghé vào tiệm ăn bên đường vùng Cai Lậy ăn cơm gạo trắng miền Tây. Bữa ăn chỉ là canh chua cá lóc và cá kho tộ, anh em dành trả tiền. Trong quán thầy không nói gì nhưng khi về đến thành phố, Thầy trả lại và bắt buộc chúng tôi nhận.

Vào một ngày gần tết năm 1984, Thầy kêu lại văn phòng Hiệu Trưởng để sửa luận văn Nội trú. Vì có yêu cầu hội chẩn tại BV Thống Nhất gấp, Thầy bảo tôi cùng theo học ca lâm sàng và tranh thủ cùng sửa ngay trên xe đi. Sau khi hội chẩn xong, Thầy giảng cho tôi nghe các phương thức đối phó trong hoàn cảnh hiện nay của chúng ta về trường hợp bệnh nhân ấy.

Trên đường trở về Đại học Y Dược, thầy vui vẻ hỏi chúng tôi: Muốn uống nước không? Tôi và chú Sáu đồng ý ngay. Xe đang chuẩn bị tìm chỗ đậu, nhưng như sực nhớ lại điều gì, Thầy móc túi ra.. . có lẽ không đủ tiền, với nụ cười nhẹ nhàng đầm thấm, Thầy bảo về Trường uống nước tốt hơn. Thương Thầy quá, tôi và chú sáu cùng nói: chúng tôi có tiền, nhưng Thầy nhất định không chịu, bảo xe quay về Trường uống nước trà của Thầy.

Cuộc sống của Thầy thật bình dị, đạm bạc, nhưng Thầy không bao giờ đòi hỏi điều gì cho mình. Nhiều người quan tâm đến Thầy, đề nghị giúp đở nhưng Thầy luôn nhẹ nhàng từ chối. Suốt nhiều năm theo học với Thầy không những chúng tôi học được ở Thầy chuyên môn, sự hăng hái trong nghiên cứu khoa học, mà còn học ở Thầy tinh thần tận tụy đối với bệnh nhân. Thầy không bao giờ nghĩ đến thù lao hay đền đáp. Thầy là một tấm gương vĩ đại về đạo đức cư xử ở đời. Tính liêm khiết của Thầy còn là bài học quý giá cho những người Đảng viên chân chính noi theo.

Muốn đánh giá một con người, nhất là các nhân vật có công trong lịch sử, chỉ có thể kết luận vào 50 năm sau khi Người ấy nằm xuống. Nhưng riêng với GS. Trương Công Trung, điều đó đã khá rõ ràng, có lẽ không cần chờ đợi! Thầy đã nằm xuống nhưng trong mỗi nhịp đập của con tim của mỗi chúng tôi, những học trò, hình ảnh Thầy luôn hiện hữu. Chúng tôi vô cùng hãnh diện và tự hào về người Thầy yêu kính. Thầy là một tấm gương sáng ngời, một nhân cách lớn để chúng tôi noi theo.

Chúng tôi đang kế nghiệp Thầy mà trong lòng luôn nhớ lời Thầy dặn năm xưa: “Hãy vun đắp cho các thế hệ ngành Y chúng ta luôn cập nhật bằng người!”. Lời thầy như nặng trĩu trên vai của các giảng viên Đại học Y, nói riêng, và của cả những ai làm nghề y.

N.C.M

(Bài viết có sử dụng tư liệu và cuốn “ký ức thời gian” của Trương Thị Hoàng Minh,

Chuyển lên blog : Văn Hữu Nhân




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa