Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Những chiến công của một dược sĩ bình dị


Trong ngành dược Việt Nam, những người thuộc thế hệ U 70 trở lên, nhiều người biết tiếng ông Bùi Đình Sang - người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp nghiên cứu sản xuất thuốc từ cây cỏ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược vô cùng khó khăn gian khổ. Nhân 40 năm ngày mất của ông (1/3/1970), xin ghi lại đôi dòng tưởng nhớ về một người dược sĩ bình dị với chiến công lớn trong ngành dược một thời mưa bom bão đạn...

 DS. Trần Xuân Thuyết

Hai công trình trong "khói lửa"

Theo bản lý lịch tự thuật (viết tay) của chính ông Bùi Đình Sang năm 1968 thì ông có tên khai sinh là Bùi Đình Thảng (tên này chỉ dùng đến khi 15 tuổi), sinh ngày 6/9/1904 tại xã Lai Thành, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trong một gia đình nông dân có 7 anh chị em, ông là con trai trưởng.

Năm 1929 - 1943, ông làm kỹ thuật viên tại phòng Vệ sinh bài gian và phòng Dược liệu của Trường Đại học Y Dược Đông Dương (Hà Nội). Ông giỏi tiếng Pháp lại thông minh, nhanh nhẹn, được làm việc với hai nhà khoa học Pháp say mê nghiên cứu dược liệu Việt Nam là P.Bonnet và F.Guichard, ông đã nhanh chóng nắm được các bí quyết và kỹ thuật nghiên cứu, chiết xuất hoạt chất trong dược thảo. Là trợ thủ đắc lực cho hai giáo sư nghiên cứu khoa học, nên có trường hợp ông đã phát hiện ra hoạt chất mới mà giáo sư lại bỏ qua, một trong những phát hiện ấy là rotundin. Năm 1967, DS. Đỗ Tất Lợi (lúc ấy chưa được phong hàm Giáo sư) trong một lần nói chuyện với tác giả bài viết này, đã cho biết, ông Bùi Đình Sang mới chính là người đã phát hiện ra rotundin trong củ bình vôi.

Vì vậy, ông được các giáo sư rất quý trọng, khi công bố kết quả các công trình nghiên cứu, tên Bùi Đình Sang được ghi rất trang trọng trên tạp chí chuyên về nghiên cứu y dược - Revue Medical Francaise d'Extrême-Orient - năm 1944.

Năm 1941, ông cùng với giáo sư, tiến sĩ Đỗ Tất Lợi (khi ấy đang là sinh viên, cũng say mê nghiên cứu dược liệu nên rất thân với ông) và P.Bonnet đã phát hiện ra hỗn hợp alcaloid của củ bình vôi, đặt tên là rotundin - có tác dụng an thần gây ngủ, hạ huyết áp, điều hòa tim, giãn cơ trơn, do đó giảm các cơn đau do co thắt cơ trơn, đưa Việt Nam trở thành nước đầu tiên trên thế giới chiết được rotundin (1944: Nhật; 1957: CHDC Đức; 1960: Liên Xô; 1962: Trung Quốc...).

Cũng năm 1941, ông và F.Guichard đã chiết được dầu màu đỏ máu từ màng hạt gấc. Năm 1942, P.Bonnet yêu cầu ông chiết dầu gấc từ hơn 2 tấn quả gấc chín bằng dung môi (ether dầu hỏa) theo điều kiện phòng thí nghiệm. Ông đã phối hợp với em trai là Bùi Đình Oánh, chủ cơ sở ép dầu thực vật (lạc và trẩu) ở Bắc Giang, nghiên cứu ép dầu màng gấc bằng phương pháp thủ công, kết quả rất mỹ mãn. Lượng dầu gấc thu được là 38 lít và 300g tinh thể caroten, tỷ lệ dầu/màng gấc= 8%; tương đương với kết quả chiết bằng ether dầu hỏa trong phòng thí nghiệm (tiền thanh toán mua ether dầu hỏa, ông thưởng cho công nhân ép dầu gấc).                            

Hai công trình rotundin và dầu gấc đã được ông phối hợp với em trai nghiên cứu đưa vào sản xuất quy mô lớn cuối năm 1944. Sau đó, ông áp dụng vào sản xuất thuốc để phục vụ quân dân ta kháng chiến chống thực dân Pháp từ đầu năm 1947.

 Tranh “Bào chế thuốc trong rừng đước”.

Lấy bản thân làm... thí nghiệm

Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử làm  Ủy viên Y tế của Ủy ban Kháng chiến quận Đại La. Ông đã tập hợp những thanh niên yêu nước, có tinh thần hăng hái xung phong, lập đội cứu thương và mời bác sĩ huấn luyện kỹ thuật băng bó, cấp cứu, phục vụ quân và dân ta kháng chiến bảo vệ thủ đô từ cuối năm 1946. Khi được bác sĩ Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y yêu cầu tham gia xây dựng Viện khảo cứu chế tạo dược phẩm, mới thành lập ở chiến khu Việt Bắc (do DS. Vũ Công Thuyết phụ trách), ông đã dùng thuyền vận chuyển được nhiều thuốc men, hóa chất và dụng cụ chuyên môn từ Hà Nội và Bắc Giang lên An toàn khu (ATK) Việt Bắc. Tháng 1/1947, ông được cử làm Trưởng ban Nghiên cứu sản xuất dược phẩm - Cục Quân y, sau đó làm Quản đốc xưởng XF21, ông đã áp dụng ngay kết quả của hai công trình nghiên cứu chiết xuất rotundin và dầu gấc trước đây vào sản xuất thuốc. Để đảm bảo an toàn và hiệu quả cho người dùng thuốc, ông đã tự thử thuốc rotundin uống và tiêm trên bản thân. Ông ghi lại: uống thử đến 500mg thì say trong 7 - 8 giờ, sau 1 tuần lại làm thuốc tiêm,  tiêm thử dưới da để tìm liều thích hợp (dose optime). Sau đó rotundin mới được sản xuất dạng thuốc tiêm và thuốc uống (viên, bột, nước) để thay thế thuốc an thần gây ngủ (phải nhập ngoại đắt tiền) trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng thời, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu kết quả chữa bệnh của rotundin trên bệnh nhân, ghi chép lại hết sức tỉ mỉ, cụ thể để làm tài liệu.

Khi ấy, chiến sự đang diễn ra ác liệt, nhu cầu về thuốc men, đặc biệt là thuốc trong cấp cứu hết sức bức bách, thiếu thốn. Sống với dân ở vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên là nơi sản xuất chè búp khô ngon nổi tiếng, trên đường phố và quanh các công sở cũ có nhiều cây long não cổ thụ (do người Pháp trồng trước đây) đã gợi ý cho ông việc chiết cafein từ chè khô và long não bột từ gỗ long não cổ thụ để sản xuất thuốc cấp cứu.

Sau khi chiết cafein từ chè khô thành công, ông lại tiếp tục nghiên cứu chiết cafein từ "bụi chè" (là chè vụn nát không bán được cho ai, người ta thường đổ đi), có giá thành rất rẻ do không mất tiền mua nguyên liệu. Việc chiết long não bột có nhiều khó khăn, trục trặc. Nếu dùng nồi cất tinh dầu cổ điển để cất gỗ long não thì chỉ được tinh dầu long não. Sau vài lần thất bại, ông mới nghĩ đến phương pháp cất bột long não đại bi của các "chú khách" (danh từ để chỉ người Trung Quốc mới đến Việt Nam làm ăn, nói chưa rõ tiếng Việt) mà có lần ông đã được xem từ xa (vì họ giấu nghề không cho ai đến gần, xem cất long não đại bi). Ông mầy mò làm thử vài lần mới đạt yêu cầu là: thu được cả long não bột và tinh dầu long não riêng rẽ. Sau đó nghiên cứu tinh chế bột long não, sản xuất  "thuốc hồi sinh"  Huile Camphré tiêm và Natri Camphosulfonat.

Một trong những sáng tạo khác không thể không kể tới của ông Bùi Đình Sang là chế phẩm bông băng thấm nước phục vụ cấp cứu chiến thương. Nhu cầu bông băng thấm nước phục vụ cấp cứu chiến thương rất lớn, lại khó có thể mua và vận chuyển từ vùng địch kiểm soát vào chiến khu được. Ông đã tổ chức mua bông do dân trồng, cán bỏ hạt rồi ngâm xơ bông trong nước vôi để tẩy chất béo. Sau khi rửa sạch xơ bông phải phơi, sấy khô rồi cũng bật bông để tạo độ xốp. Việc khó nhất là phơi khô bông trong điều kiện máy bay địch kiểm soát, bắn phá hàng ngày. Ông có sáng kiến làm lò sấy cách nhiệt để sấy khô bông, vừa tránh được máy bay địch phát hiện, bắn phá, vừa đảm bảo vệ sinh vô trùng cho sản phẩm và đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu bông băng hút nước cho cấp cứu chiến thương, cứu chữa thương binh được kịp thời.

 Làm thí nghiệm bào chế hoạt chất Rotundin.

Do những chiến công ấy nên khi tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng hai. Năm 1957, ông được cử làm Viện phó Viện Vệ sinh Quân đội, sau đó đi tu nghiệp tại Đại học Quân y Thượng Hải (Trung Quốc). Năm 1967 làm Phó chủ nhiệm Khoa Nghiên cứu và sản xuất thuốc mới, đồng thời tham gia đào tạo và bổ túc cho các dược sĩ, bác sĩ trong quân đội ở trường Đại học Quân y.

Trong khi vẫn đau đáu những trăn trở và mong mỏi cống hiến nhiều hơn nữa cho ngành dược nước nhà, ông gặp tai nạn và hy sinh ngày 01/3/1970 (24 tháng Giêng âm lịch) khi đi tìm địa điểm trồng cây thuốc cho quân đội tại Ba Vì, lúc mới 66 tuổi.

Thế hệ sau cứ tưởng ông nghiễm nhiên phải là giáo sư, dược sĩ mới làm được những việc như  vậy, nên 31 năm sau ngày ông mất, trong công văn của Học viện Quân y ngày 28/8/2001 gửi tiến sĩ Bùi Minh Đức (con trai trưởng của ông, nay là giáo sư, tiến sĩ) có đoạn ghi: "... Học viện Quân y xin giới thiệu đoàn quay phim quân đội với gia đình cố GS.DS. Bùi Đình Sang để gia đình giúp đoàn quay phim đưa lên phim hình ảnh, tư liệu về GS. Bùi Đình Sang - Người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu bào chế các sản phẩm dược từ củ bình vôi. Học viện rất trân trọng kết quả nghiên cứu của GS. Sang và kế thừa ý tưởng nghiên cứu của giáo sư...." (trích Công văn do Phó Giám đốc Học viện Quân y, Đại tá, PGS.TS. Lê Bách Quang ký).

GS.Dược sĩ Bùi Đình Sang.

 Chuyển lên WebQDY : VHN - PNĐ




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa