Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Mùa hoa phách tim


Tuyên Quang, nơi có thành nhà Mạc sừng sững rêu phong nhìn ra sông Lô vừa thơ mộng, vừa oai hùng . Cùng với dòng sông lịch sử này, còn nhiều nơi đầy sức vẫy gọi khách thập phương: suối nước khoáng dưỡng sức Mỹ Lâm, Khu di tích lịch sử Đá Bàn; Khu căn cứ Kim Bình đã chứng kiến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ( năm 1951), Căn cứ ATK ở Yên Sơn, khu Tân Trào lịch sử....

          Sang thu nắng dịu, trời trong . Ve không còn rả rích nữa. Măng mai măng trúc đã già . Rừng dậy một màu tím ngan ngát, đằm thắm. Hoa phách đấy. “ Ve kêu rừng phách đổ vàng” . Cây gỗ phách chỉ vùng này mới có. Lá phách úa vàng rụng vào mùa hè, còn thu sang hoa nở tím rừng.

          Cuộc hành hương về chiến khu hôm nay, bên cạnh những người mới tới lần đầu , đáng chú ý có vợ chồng bác sỹ Y Ngông Niê Kdam. Hiện nay bác sỹ Y Ngông là Uỷ viên thường vụ , Chủ tịch Hội đồng dân tộc Quốc hội.. Đây không chỉ là chuyến đi công tác bình thường của đồng chí Chủ tịch Hội đồng, mà gần như một chuyến hồi hương của bác sỹ Y Ngông. Kháng chiến toàn quốc ( 12-1946) bùng nổ, lúc đó ông 24 tuổi, là chàng trai Êđê đầu tiên của núi rừng Tây Nguyên ra Việt Bắc sống, chiến đấu bên sông Gâm, sông Lô lắm thác, nhiều ghềnh. ông nhớ bóng tròn cây Knia lưng đồi Đăk lăk nhưng đã được thấy bóng trùm mát rượi của cây đa Tân Trào giữa rừng núi Tuyên Quang. Ông may mắn được học và làm y sỹ bên cạnh giáo sư Tôn Thất Tùng, Hồ Đăc Di, hoà mình với bản làng Xuân Quang, Hùng Mỹ, Kim Bình...Ông cưới vợ và sinh con gái H’Linh Niê kdam( Linh Nga) ở làng Quãng cháo bẹ rau măng , gian khổ khó khăn và yêu dấu ấy. Bây giờ H’Linh là nhạc sỹ,nhà văn, đang công tác tại Tây Nguyên .

          Từ thị xã Tuyên Quang đi ô tô lên thị trấn Vĩnh Lộc nhanh cũng mất hai tiếng đồng hồ, phải qua sông Lô bến Bợ . Từ Vĩnh Lộc qua Ngòi Quãng  lên bản Thẳm là nơi bác sỹ Y Ngông đã từng hoạt động.

          Bản Thẳm thuộc xã Hùng Mỹ, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến lúc bấy giờ ( 1947) là ông Ma Văn Quy . Giặc càn lên chiến khu. Vợ Y Ngông là Bùi Thị Tân , cán bộ phụ nữ huyện bị sốt rét nặng. Bác sỹ Y Ngông bận chiến dịch nên gửi vợ sơ tán về Bản Thẳm ở nhà ông chủ tịch xã.Ông Quy gạt tục lệ kiêng kỵ ra một bên, đưa cô Tân lên nhà, coi như con cháu, như người ruột thịt. Bao thuốc thang , chăm sóc, cứu chữa, ông chủ tịch xã giành được cô Tân từ tay con “ ma rừng” bằng những bài thuốc dân gian. Khi khỏi bệnh,  nghe  ông Quy nói thuốc là con giun đất lam trong ống nứa với lá cây rừng, cô Tân sợ tái mặt mà vẫn cười. Bốn mươi sáu năm đã qua, hôm nay vợ chồng Y Ngông tìm về . Nắng vẫn lung linh như nắng mùa thu ấy, nhưng ông Quy đã không còn. Cây rừng có năm, có tháng, cây rừng già.Nhà cụ Quy cũng không còn nơi đất cũ. Hai người lặng đi ít phút rồi lại tìm đường vào bản Vươn, làng Vườn. Xe ở lại đường lâm nghiệp, ông bà dắt tay nhau men theo con suối nhỏ về nhà con cả cụ Quy là ông Ma Văn Liện. Ông Liện thời ấy mới 16 tuổi nhưng bởi thương nhau, nhớ nhau chẳng bụi thời gian nào che lấp được tình người.Vừa nhìn thấy là ông Liện đã reo lên :

- Ơi anh Y Ngông, ới chị Tân.

          Anh em tay bắt mặt mừng, ríu ran câu chuyện , cố ngăn dòng nước mắt mà giọt ngắn giọt dài vẫn lăn nhẹ trên má.

          Ông Liện kể :

- Bố tôi trước khi mất còn dặn lại rằng , sau giải phóng miền Nam vợ chồng Y Ngông đã vào Đăk lăk . Con cháu ai có điều kiện, có dịp vào Tây Nguyên nhớ đến thăm,nói cụ vẫn nhớ vẫn thương , dân bản Thẳm vẫn nhớ thương vợ chồng Y Ngông lắm .  

          Chủ tịch Y Ngông chưa hết xúc động, hỏi :

-          Hiện giờ gia đình sống ra sao ?

- Hai chị gái tôi lấy chồng ở riêng . Một chú em hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ ở Vĩnh Linh .Còn một chú- chú Sơn mà anh gặp ở chiến dịch Tây bắc đó,là thương binh, bị hỏng mắt.Tôi được năm cháu,cháu lớn đã lấy chồng . Vợ chồng nó đang công tác ở Tây Nguyên . Chắc có đến chỗ chị. Nhà cũng tạm đủ ăn.Nuôi được 6 con trâu và 2 ao cá .

          Ông cười rồi nói tiếp :

- Nhưng bà con mình không phải nhà nào cũng được như thế này đâu.Cũng có nhà khá hơn, tự lắp máy thuỷ điện chạy đài,chạy tivi, thắp sáng, nhưng ít. Phần đông còn khó khăn. 

          Ông Liện nói chẳng sai. Càng những vùng căn cứ kháng chiến trước đây càng nghèo vì những nơi đó thường quá sâu, xa, rừng thiêng nước độc, núi non hiểm trở. Đường lên khó khăn. Điện không có,dân trí thấp. Ăn, mặc chưa đủ nói gì đến học hành, đến phòng chống bệnh tật. Nhưng dân vẫn một lòng theo Đảng, thuỷ chung với cách mạng. Sông Gâm, sông Lô vẫn dồn nước về cho biển , những giọt nước mát chắt chiu từ bao ruột núi, suối rừng. Sông vẫn chảy, nhưng kỷ niệm chẳng trôi đâu, kỷ niệm ở lại với con người, về đô hội phố phưòng, chuyện xưa thêm xa, ngàn non thêm cũ.

          Lúc ở thị trấn Vĩnh Lộc, hỏi thăm bà Vàng ở làng Quẵng, vợ chồng Y Ngông được giới thiệu với một thanh niên có dáng già trước tuổi. Đó là Hà Phúc Thành, con trai ông Hà Phúc Hiến ( đã quá cố) và bà Hà Thị Vàng. Thành hiện là kỹ sư nông nghiệp, chủ tịch Hội nông dân huyện. Nhớ đến bà Vàng là nhớ đến bông hoa rừng xinh đẹp nhất thời bấy giờ. Bà Tân thời ấy cũng trẻ đẹp, nhưng không đẹp bằng cô gái Tày đã hiển hiện trên trang báo tường của trường Y. Nét vẽ mộc mạc, vẽ trong trí nhớ mà làm xôn xao bao lính chiến khu, cán bộ trẻ của 6 bộ trong chính phủ kháng chiến đóng tại vùng này.Thành đưa khách về, quanh co những con đường bản vắng. Bà Vàng không nhận ra bà Tân ngay, nhưng lại reo lên : “ Đúng anh Y Ngông rồi”. Bà vừa khóc, vừa cười, vừa kể : “ Y Ngông vẫn giúp làng, giúp bản bao nhiêu việc ”. Bà nhớ : “ Y Ngông trèo cây hái quả giỏi lắm.Y Ngông và vợ còn đi tắm  suối đêm trăng.Con gái làng Quẵng biết, chỉ bụm miệng cười, không dám trêu” .Dân làng làm cho mẹ con H’Linh ngôi nhà nhỏ bên hữu ngạn Ngòi Quẵng , trên một quả đồi thấp giờ rừng hỗn giao lúp xúp đã khép tán.

          Chỉ vừa mới dừng chân chưa kịp uống nước thì dân làng đã nêm nhau trên sàn xem mặt Y Ngông. Bông hoa rừng xưa chỉ còn phảng phất lại nét hoa. Bao nhiêu sắc màu đã lặn cả vào nếp nhăn thời gian, lặn cả vào sự vất vả thay chồng lo cho con cháu ăn học trưởng thành.

          Dân quê tôi đâu chả thế. Nụ cười chân thật, đậm tình là nụ cười có thêm giọt mồ hôi, nước mắt. Nhà bà Vàng vẫn ở trên đất cũ. Người và cây đổi thay nhiều nhưng mái tranh, lối mòn vẫn vậy. Bà Tân trước đây đã đi khắp 28 xã của huyện này, diện tích có thể so sánh với tỉnh Thái Bình quê bà. Ông Y Ngông không đi nhiều bằng nhưng dễ nhận ra hơn. Đến đây,gặp ai người cùng thời với ông, họ đều thốt lên mừng rỡ : “ Y Ngông”. Ông vẫn nhớ tiếng Tày, tiếng Dao. Thăm một gia đình cụ người Dao tuổi đã ngoài 80 đã hạ sơn định canh định cư từ lâu, nhà cửa khang trang, con cháu trưởng thành, ông Y Ngông nói rất vui : “ Tôi là ngườì Dao- Êđê”.Lúc chia tay, ông ôm lấy cụ già chào bằng lời người Dao thân thiết.

          Huyện Chiêm Hoá, một trong những căn cứ của ATK, giờ đây phân đấu được bình quân lương thực đầu người một năm 300 kg là một kỳ tích,nhưng thu nhập bình quân 30.000đ/ người/tháng thì lại dưới mức nghèo đói. Huyện báo cáo với chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội rằng : cự ly trung bình từ huyện đến xã là 40km.Nay huyện mới có 300km đường ô tô liên xã, đến được 1/3 trong tổng số 28 xã. Định mức lao động xã hội 50 người/ km đường là vừa sức quản lý,đây 6-7 lao động/ km trong khi cứ bình quân 1km đường có 13 cái cống thoát nước. Phải là huyện “ tỷ phú” mới mở nốt đường đến 2/3 xã còn lại và giữ cho nó khỏi xuống cấp. Huyện còn chừng 3.000-4.000 người mù chữ. Đó là con số không nhiều. Nhưng 600 người nghiện hút chất ma tuý và 40% của 12 vạn dân toàn huyện mắc bệnh bướu cổ là con số đáng báo động.

          Cũng có việc tưởng như đơn giản mà lại phức tạp vô cùng. Tôi không có ý định nói điều này vì lòng tự trọng của người dân vùng quê cách mạng. Nhưng Chủ tịch Y Ngông Niê kdam nhắc chúng tôi hãy nói xem “ ai là người chịu trách nhiệm”? Ấy là ở xã Kháng Nhật ( huyện Sơn Dương), nơi có đèo Kháng Nhật đã đi vào lịch sử. Xã có 3000 dân, hầu hết là người Dao, Sán Dìu. Hiện nay cả 3000 dân đều sống lưu vong sang hai xã bạn là Thiện Kế, Ninh Lai, dành đất lại cho Nhà nước khai thác thiếc. Chẳng ai biết bao giờ mới đào xong mỏ,chỉ biết nơi đào xong không được san lấp như cũ. Đất bị bới tới tận âm ty, màu mỡ trôi đi cả. Đất là vàng mà đất chẳng được tôn trọng thế ư? Huyện nói, tài nguyên đất mình nhưng dân chẳng được  hưởng lợi lộc gì, chỉ thấy hại. Các mỏ chỉ nộp lại 5% thuế tài nguyên mỗi năm, ngân sách huyện thêm được vài ba trăm triệu đồng,bõ bèn gì so với công sức, tiền của bỏ ra sửa đường quan cho xe mỏ đi lại, cày xới.Với lại, ai mà kiểm soát được cái “ trăm phần trăm” nó là bao nhiêu?

          Tuyên Quang không phải chỉ có thiếc Sơn Dương,thiếc Bắc Lũng, mà có Von pram, có Batit, có kẽm...vv..Hãy đánh thức những tiềm năng của vùng quê cách mạng, nhưng phải biết bảo vệ môi trường. Núi rừng này không thể thiếu màu hoa phách tím.

                                      *                  *

                                                *

          Lán Nà Lừa đơn sơ đến khó tưởng.Lán dựng y như ngày xưa. Chỉ có 2 gian bé nhỏ, vách nứa, mái lá gồi. Hai ống bương đựng nước, dựng ngay đầu lán, chỗ sàn nước nhỏ. Bác vẫn tự tay xách nước từ suối Khuôn Pén lên.Phía trước lán, mấy tảng đá còn đó, nơi ngày xưa Bác thường ngồi đọc hoặc đánh máy chữ. Đây thực sự là đại bản doanh của vị Tổng tư lệnh chỉ huy cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945. Ở gian lán nhỏ này đã vang lên câu nói của Bác , mà đến giờ chúng ta ai cũng nhớ : “ Lúc này thời cơ thuận lợi đã đến, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

          Đến Nà Lừa, bác sỹ Y Ngông nhớ có một lần cùng đoàn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đến mừng ngày sinh Bác Hồ. Ông lặng đi bên lán kể lại những ngày được gần Bác. Rừng thu nắng lung linh. Lối nhỏ xuống suối Bác vẫn đi đã được lát đá. Ngày ấy cây rừng rậm rạp, tán xoà ra kín mặt. Bác phải gạt cây mới thành lối.

          Sau khi thăm cây đa Tân Trào, nơi ngày 16-8-1945, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắn súng lệnh, làm lễ xuất quân tiến về giải phóng thủ đô, Y Ngông đến thăm đình Tân Trào, nơi họp quốc dân đại hội. Đình Tân Trào hay Hồng Thái cũng mái gồi, sàn gỗ nhưng uy nghiêm bởi dấu son lịch sử còn nguyên vẹn.

          Nhà bảo tàng Tân Trào còn giữ được nhiều hiện vật qúy. Cái mâm gỗ, quả bầu đựng chè, liễn sứ đựng cơm , thau đồng rửa mặt...Bác đã từng dùng. Những vật thô sơ, qua thời gian nhưng như vẫn ấm hơi người.

          Đến Tân Trào, ai cũng muốn được chụp ảnh dưới bóng đa, vậy ai cũng muốn làm một chiến sỹ của Bác Hồ trong ngày mới hôm nay.

          Tuyên Quang! Cả nước tự hào về Tân Trào, Thủ đô xanh của cách mạng, về Nà Lừa - Phủ Chủ tịch bằng tre nứa, về đình Tân Trào- hội trường Ba Đình của những năm kháng chiến xưa.

          Cả làng Tân Lập, nhà nào cũng được cấp bằng có công với đất nước. Làng bây giờ vẫn vậy, ngay bên cạnh đôi cây đa.Cụ Nguyễn Tiến Sự, người vinh dự được đón Bác về nhà mình ở ngày Bác mới về Tân Trào,đã già yếu rồi. Lần trước vào thăm cụ ở nhà cũ, cụ kể : “ Bác giản dị như một già bản.Bác với dân ngồi cùng chiếu, ăn cùng mâm”. Cụ Sự bây giờ ở với cháu nội trong ngôi nhà xây mái bằng.Nhà “ Tây” nóng lắm. Điện đã đến xã Tân Trào nhưng để vào được bảo tàng, vào được nhà dân thì còn thiếu...dây !Chủ tịch Y Ngông gặp cụ Sự, mừng mừng tủi tủi như anh em ruột thịt lâu ngày gặp nhau. Bao kỷ niệm với đồng bào, đồng chí lại thức dậy trong lòng ông. Căn hầm nhỏ bên bờ sông Lô chịu không biết mấy trận bom thù. Ghềnh Chì đó với dòng nước lũ. Tiếng súng lệnh từ Tân Trào đã vang cả nước.Độc lập, thống nhất đã về với dân tộc và Tổ quốc. Làm sao có thể quên được những gương mặt. Tiếc là đường xa, khó không thể đi đến được Kim Bình, nơi bác sỹ Y Ngông được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ các đại biểu dự đại hội II của Đảng.Chỉ cần nhìn lại đất cũ thôi chứ dấu tích xưa đâu còn nữa.Đâu cây đa  nước chảy? Đâu làng nhỏ Giếng Tanh của người Cao Lan? Năm 1949, Giếng Tanh được chọn xây dựng làng kiểu mẫu. Bà Tân dạy bình dân học vụ ở đó, H’ Linh còn phải địu .Thỉnh thoảng ông về thăm vợ con, sống trong tình làng nghĩa xóm. Làng thời ấy ngát hương bưởi. Giờ bưởi vẫn còn ngát hương. Nhiều người vẫn nhớ đến Y Ngông khám bệnh, tiêm thuốc, đỡ đẻ cho những ai,những nhà nào....Nói đến “ Giếng Tanh” nhưng  giếng làng nước trong, không tanh, không độc, đủ nuôi sống,tắm mát bao thế hệ dân làng, và bao cán bộ, bộ đội.

          Trước cuốn sổ lưu niệm của bảo tàng Tân Trào, ông Y Ngông trầm ngâm xúc động, lúc sau ông viết có đoạn : “ Kính thưa Bác Hồ, năm nay cháu đã 71 tuổi, xa trời gần đất rồi. Cháu hiện là uỷ viên thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội. Xin hứa với Bác Hồ, với Trung ương Đảng, tôi sẽ quyết tâm cống hiến cho sự nghiệp của Đảng đến hơi thở cuối cùng”.

          Hôm đó ở Chiêm Hoá, ông đã hát. Câu hát Êđê như suối đàn T’rưng. ông hát đáp lại lời then của một cô gái Tày, áo chàm đàn tính,đã xinh như hoa lại hát hay như tiếng chim sơn ca.Ông hát rồi tự dịch ra :

                   “ Mẹ sinh ra em ở miền Bắc

                     Mẹ sinh ra anh ở miền Nam

                     Làn gió xuân ấm áp

                     Cho chúng mình gặp nhau

                     cho chúng mình thương nhau...”

          Ông Y Ngông đã hát những lời ca mộc mạc từ đáy lòng mình. Hôm nay ông trở về Tuyên để tìm lại, được sống lại một thời sôi nổi, hào hùng. Không riêng ông Y Ngông, tất cả trong chuyến hành hương ấy, được trở về với ngọn nguồn, người già thấy trẻ lại, người mới lớn càng vững tin vào con đường đang đi.

          Xe chuyển bánh rồi, mọi người vẫn ngoái lại nhìn lá cờ đỏ thắm trước sân nhà bảo tàng Tân Trào. Những bàn tay lưu luyến vẫy theo. Ngan ngát dọc đường là tím hoa phách rập rờn trong gió thu....

 

 

 

Nguyễn Trọng Hùng

Hội VHNT Tuyên Quang

 Chuyển lên WebQDY: VHN - PNĐ




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa