Search

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Đến Tây Nguyên nhớ Y Ngông Niê Kdăm


Untitled-12

Chị Linh Nga Niê Kdam,  thứ nữ của thầy Y Ngông từ Đăk Lăk hôm rồi bảo tôi: Năm nay gia đình tổ chức tưởng niệm cha tôi nhân 90 năm ngày sinh của ông... Vào Đăk Lăk thì ghé vô nhé! Vậy là nếu còn sống, Y Ngông Niê Kdăm tròn 90 tuổi. Con người một đời tận tụy cống hiến cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc ấy được ví như cánh chim bằng Tây Nguyên đã ngừng bay, nhưng sự nghiệp, danh tiếng ông vẫn còn mãi.

 

Tôi gọi ông bằng thầy chẳng phải vì được học ông mà vì một người bạn tôi vẫn gọi ông vậy. Có lẽ số phận đã đặt ông lên địa vị ấy. Ông từng là Hiệu trưởng Trường Học sinh Dân tộc miền Nam rồi Giám đốc Nha học chính Quế Lâm - Trung Quốc. Về Trung ương, ông là Thứ trưởng Bộ GD rồi Hiệu trưởng trường đại học Tây Nguyên... Nhà giáo nhân dân Y Ngông Niê Kdăm, từ một người con của núi rừng Tây Nguyên đã sớm có lòng yêu nước và dấn thân vào con đường giải phóng dân tộc. Với khát vọng đổi đời cho cho đồng bào mình, từ khi còn trẻ đến lúc ông ở cương vị cao: làm Ủy viên Hội đồng Nhà nước, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, hay làm lãnh đạo địa phương, hoặc làm Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Nguyên... đạo đức, tài năng của ông luôn tỏa sáng và hướng về đồng bào mình.
Y Ngông Niê Kdăm sinh năm 1922 tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk trong một gia đình nông dân có tinh thần yêu nước. Trong hồi ký của mình, Y Ngông viết:
“Mẹ sinh tôi vào lúc gà gáy sáng ban mai ngày 13/8/1922 tại buôn Ea Sut, xã Kma Rang Prong - nay thuộc thị trấn Ea Pok, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk. Thật ra, người Ê-đê chỉ biết tính tuổi theo mùa rẫy, nhưng sau này đi học theo trường Pháp, họ gọi bố mẹ hỏi cặn kẽ, rồi tính ngược lại để lập giấy khai sinh cho chúng tôi.
Người Ê-đê chúng tôi ở Đăk Lăk có 2 dòng họ lớn Niê và Mlô. Từ 2 dòng tộc chính này toả ra 24 nhánh họ. Niê Kdăm đứng đầu dòng họ Niê, Mlô Duôn Du đứng đầu dòng họ Mlô. Mẹ tôi thuộc dòng họ Niê Kdăm, một dòng họ từ xa xưa có nhiều tù trưởng giàu có, hùng mạnh (vì theo truyền thuyết thì khi lên khỏi mặt đất, các dòng tộc khác đã chia chác, lựa chọn hết những vật có sẵn. Người trưởng họ Niê Kdăm giận dỗi đạp mạnh chân lên mặt đất, nói “tất cả đất này là của Niê Kdăm”). Nhưng tới thời thuộc Pháp người, Ê-đê nghèo dần. Sau Cách mạng tháng Tám, chế độ tù trưởng cũng đã không còn nữa. Tôi mang họ Niê Kdăm của mẹ theo đúng luật tục mẫu hệ Ê-đê”.
Thời kỳ học trường Thành Chung ở Quy Nhơn, ông đã từng tham gia hướng đạo sinh, học tiếng Kinh và truyền bá quốc ngữ, ủng hộ phong trào cứu đói miền Bắc, ông bị thực dân Pháp tình nghi bắt về quê. Từ năm 1942 đến 1945, học Trường Y sỹ ở Sài Gòn, sau đó về Đăk Lăk tham gia phong trào Việt Minh vận động tổng khởi nghĩa ở Buôn Ma Thuột.
Cách mạng tháng Tám thành công, với tuổi trẻ sôi nổi của mình, ông được giao nhiều trọng trách: Phó Ban Quốc dân thiểu số miền Tây Nam Trung bộ, Phó Giám đốc Nha Dân tộc thiểu số Trung ương năm 1946; Phân viện phó Viện 9 phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954... Trong lịch sử hoạt động của Quốc hội Việt Nam, chưa có một nghị sỹ nào liên tục là Đại biểu liền 9 khóa như ông (từ khóa I đến khóa IX).
Là một người có vị trí cao trong xã hội, bác sỹ - nhà giáo nhân dân Y Ngông Niê Kdăm đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đặc biệt là đối với ngành giáo dục. Ông từng có nhiều ý kiến tâm huyết trong xây dựng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, ông xứng đáng là đại biểu có uy tín của đồng bào các DTTS. Ông là một “già làng vĩ đại” không riêng gì của Tây Nguyên. Người thư ký của ông năm xưa, ông Nguyên Khôi đã viết về thủ trưởng của mình ở Hội đồng Dân tộc của Quốc hội những dòng cảm động: “Bác Y Ngông Niê Kdăm là một con người rất người, rất Ê-đê, rất Việt Nam...  
Nhà giáo Trần Đăng Thao cũng nhớ lại: “Ông là một trí thức lớn của cách mạng. Ông sống giản dị thân mật với tất cả. Các cháu học sinh thường gọi ông là cha, là ông. Ông cũng gọi họ là các con một cách rất đỗi thân thương”. Ông là người đầu tiên đặt vấn đề với Bộ Giáo dục cử tuyển sinh viên dân tộc (kể cả con em đồng bào dân tộc Khmer ở Nam bộ),  mở hệ B ở Trường Đại học Tây Nguyên,
Ngày 9/9/1946, khi ký sắc lệnh số 58  thành lập Bộ Nội vụ, Hồ Chủ tịch đã bố trí Y Ngông về làm Phó Giám đốc Nha Dân tộc thiểu số. Hai mươi bốn tuổi đời, ông đã là một trí thức lớn sớm giác ngộ cách mạng. Ông là người đảm đương nhiều cương vị quan trọng trong suốt chặng đường dài cống hiến sôi nổi kiên trung... Điều làm ông trở nên lớn lao là sự không lựa chọn, phân vân trước bất kỳ một công việc nào, từ Thứ trưởng Bộ Giáo dục về làm Chủ tịch tỉnh. Từ Bí thư Tỉnh ủy chuyển sang làm hiệu trưởng một trường đại học, hay làm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội... Con người ấy, từ trong căn cốt của mình không màng danh vọng, chức tước. Người đàn ông Ê-đê ấy đã làm rạng danh cho dân tộc, cho Tây Nguyên bằng những đóng góp xứng đáng suốt nửa thế kỷ từ cách mạng bắt đầu nhen nhóm, đến kháng chiến giữ nước, rồi công cuộc xây dựng hòa bình.
Lần thăm lại Tuyên Quang, nơi đã gửi lại cả một thời tuổi trẻ ở chiến khu Việt Bắc, ông đã kính cẩn viết vào sổ lưu niệm ở Bảo tàng Tân Trào, cũng là thưa với linh hồn Bác: “Kính thưa Bác Hồ, năm nay cháu đã 71 tuổi, sắp xa trời gần đất rồi. Cháu hiện là Ủy viên thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Xin hứa với Bác Hồ, với Trung ương Đảng, cháu sẽ quyết tâm cống hiến cho sự nghiệp của Đảng đến hơi thở cuối cùng”.
Hôm đó ở Chiêm Hoá, ông đã hát. Câu hát Ê-đê như suối đàn t’rưng. Ông hát đáp lại lời then của một cô gái Tày, áo chàm đàn tính, đã xinh như hoa lại hát hay như tiếng chim sơn ca. Ông hát về người vợ dòng họ Bùi quê Thái Bình của mình mà Y Ngông yêu thương quý trọng và coi đó là kết quả của một tình yêu lớn. Từ Việt Bắc những ngày gian khổ, cơ duyên đã đưa họ đến với nhau không chút phân vân, đắn đo, bởi lý tưởng cách mạng đã là thứ keo sơn bền chặt nhất. Lần về lại Chiêm Hóa - Tuyên Quang, ông đã hát bài dân ca tặng người vợ yêu quý của mình bằng tiếng Ê-đê rồi tự dịch sang tiếng Việt, rằng:        

“Mẹ sinh ra em ở miền Bắc
Mẹ sinh ra anh ở miền Nam
Làn gió xuân ấm áp
Cho chúng mình gặp nhau
cho chúng mình thương nhau...”

Chị Linh Nga kể về người cha đáng kính: “ Ba Y Ngông giản dị chân thành, hết lòng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và chăm lo đời sống đồng bào các DTTS. Từ năm 24 tuổi, rời Buôn Ma Thuột  lên đường ra miền Bắc theo lệnh triệu tập của Quốc hội, hơn 50 năm, suốt chín khóa làm người đại biểu của nhân dân các dân tộc, ba tôi có lúc nào nghĩ ông cống hiến để nhận vinh danh đâu? Trong tâm trí ông, chỉ luôn đau đáu có một điều “làm gì cho đời sống người DTTS đỡ khổ?”.
Tôi nhớ khi đang ở Tây Nguyên, lần đi thực tế lao động làm thủy lợi Buôn Triết, huyện Lắc, tôi nghe đồng bào M’nông kể rằng: Hồi ấy, ông chủ tịch tỉnh Y Ngông cùng Bí thư Trần Kiên đã xắn quần lội sình lầy, vẹt cỏ lác lút đầu mà khai hoang, đào kênh đắp đập làm thủy lợi, làm nên những cánh đồng lúa nước đầu tiên ở Buôn Triết, Buôn Trấp... Hình ảnh Y Ngông tay vục mớ đất bùn giơ lên ngắm và mơ ước những mùa vàng về trên cao nguyên làm xúc động bao người.  
Một thời gian khó sau chiến tranh, ông về lại quê hương và xắn tay áo lên cùng bà con làm nông nghiệp, xóa đi cái đói, cái nghèo của đồng bào các dân tộc Đăk Lăk... Ông hết lội đồng lại hăm hở leo đèo, vượt núi để đi quy hoạch cho những rừng cao su, cà phê.  
Có người đã viết tặng ông những câu thơ rất chân thật:
Chân ông sải tới đâu
Đất phơi màu tới đó
Xin dâng tặng
Những mùa vàng
Cho mãi mãi mai sau

Đã là cán bộ lãnh đạo cao cấp, dẫu đi xa quê hương mấy chục năm ròng, ông vẫn không quên gốc gác và bản sắc dân tộc mình. Nhớ những lần công tác cơ sở, lúc ở lại ăn cơm hay dự hội hè với bà con, ông luôn hòa nhập từ ngôn ngữ, tập tục đến việc uống rượu cần, đánh chiêng, nhảy múa... Những lúc như vậy, ông rất vui vì được tắm mình trong không khí sinh hoạt buôn làng, được trở về nguồn cội...
Dấu chân ông in khắp mọi vùng đất nước Việt, từ mũi Cà Mau cho đến địa đầu Lũng Cú, nơi nào có người DTTS là ông tới.  Các buôn làng, bến nước Tây Nguyên đều biết đến ông.
Nhà giáo nhân dân Y Ngông Niê Kdăm! Tên ông đã đóng dấu vào lịch sử thế kỷ XX. Thành phố Buôn Ma Thuột, quê hương đã có một con đường mang tên ông. Nhưng với tôi, tôi đề nghị khi viết tên Y Ngông, hãy viết thêm bí danh của ông: Nguyễn Ái Việt. Vâng! Bút danh ấy thể hiện lòng yêu nước Việt Nam của ông, từ thủa xa xôi cho đến tận cuối đời

 T ân Linh 

Chuyển lên WebQDY : VHN - PN Đ




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa