Search

 

 

 

 

 Tin Tuc News
Article List

Cư sĩ Nguyễn Hữu Kha với những đề xuất về phương thức tu tập và sinh hoạt Tăng già


Nguyễn Hữu Kha có các tên hiệu là Tịnh Liễu (Tịnh là thân tâm trong sạch, Liễu là hiểu biết sâu sắc), Lạc Khổ (giữ niềm vui trong cảnh khổ), Thiều Chửu (chiếc chổi làm bằng cành hoa lau)([1][1]), sinh năm 1902 tại làng Trung Tự, phường Đông Tác, tổng Kim Liên, Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống nho học: cụ nội là Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (nhà văn và nhà giáo nổi tiếng ở Hà Nội, bạn thân của các văn hào đương thời tiêu biểu như Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan, Phạm Sỹ Ái); thân phụ là Cử nhân Nguyễn Hữu Cầu (tham gia sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, từng bị đày ra Nhà tù Côn Đảo, sau về chuyên việc dạy học và làm thuốc); anh ruột là Giáo sư Nguyễn Hữu Tảo (một trong những người có công sáng lập nền giáo dục mới ở Việt Nam, trước năm 1945 dạy học tại các trường Thành Chung ở Nam Định và Hải Phòng, sau năm 1945 từng làm Tổng Giám đốc Nha Tiểu học vụ Bộ Quốc gia Giáo dục, Giám đốc Sở Giáo dục Liên khu Việt Bắc, Chủ nhiệm Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội),v.v…

Từ nhỏ, ông được bà nội, một người giỏi Hán ngữ và mộ đạo Phật dạy dỗ, lại được người bác ruột là một tú tài kèm cặp. Nhà nghèo, với tinh thần vừa làm vừa học, dần dần ông có một vốn kiến thức sâu rộng về văn hoá truyền thống, đặc biệt là Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo), thông thạo nhiều ngoại ngữ như Anh, Pháp, Hoa, Nhật.

Năm 18 tuổi, ông thực sự đến với đạo Phật thông qua việc hằng tuần giảng dạy Hán văn cho các tăng sĩ chùa Phúc Khánh (Chùa Sở, tỉnh Hà Đông; nay thuộc quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội), tham vấn Phật pháp một số danh tăng các nơi. Năm 26 tuổi, ông bắt đầu dịch kinh sách Phật giáo, mà một trong những kết quả đầu tiên là bản dịch “Khoá Hư Lục” của Trần Thái Tông hoàn thành vào năm 1932.

 

Từ năm 1932, ông là người hợp tác tích cực với nhóm Phật Học Tùng Thư vận động chấn hưng Phật giáo và tiến hành những công việc chuẩn bị cho sự ra đời Hội Phật giáo Bắc Kỳ([2][2]). Trên nhiều cương vị khác nhau, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc nửa đầu thế kỷ XX, tiêu biểu như:

Về xây dựng cơ sở vật chất. Thiều Chửu được Hội Phật giáo Bắc Kỳ cử vào Ban Hưng Công cùng với nhà sư Trí Hải xây dựng lại chùa hội quán trung ương. Trên cương vị là người lo tài chính, ông đã tổ chức công nhân Nhà in Đuốc Tuệ làm thêm giờ, làm hương trầm,… Ông còn dành toàn bộ số tiền xuất bản cuốn “Hán-Việt tự điển” và một số kinh sách Phật giáo khác do ông biên soạn từ năm 1938 đến năm 1942 cho quỹ xây dựng chùa. Từ năm 1941 đến năm 1944, cùng một số đồng chí, Thiều Chửu được Hội Phật giáo Bắc Kỳ tín nhiệm giao lập am Tế Độ (làng Mọc Thượng Đình, tổng Mọc, tỉnh Hà Đông, nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội) để các hội viên và dân nghèo dưỡng bệnh khi bị ốm đau; xây dựng Trường Phổ Quang (làng Mọc Chính Kinh, tổng Mọc) để dạy các tăng ni; mở một ngôi trường đặc biệt ở làng Mọc để dạy học trò nghèo.

 

Về công tác biên dịch thư tịch Phật giáo Việt Nam cổ. Từ năm 1940 đến năm 1943, dưới sự bảo trợ của Trường Viễn Đông Bác Cổ, Hội Phật giáo Bắc Kỳ đã giao cho Nguyễn Hữu Kha cùng với Trần Văn Giáp khởi công ván khắc những thư tịch Phật giáo Việt Nam bằng chữ Hán, tiêu biểu là một số tác phẩm trong bộ “Việt Nam Phật Điển Tùng San”, một bộ sách quý và quan trọng đối với việc nghiên cứu và tu hành Phật giáo, tiêu biểu như “Chư Kinh Nhật Tụng”, “Thụ Giới Như Phạm”, “Thiền Uyển Kế Đăng Lục”, “Pháp Hoa Đề Cương”, “Bát Nhã Trực Giải”, “Khoá Hư Lục”, “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục”, “Tam Tổ Thực Lục”, “Lễ Tụng Hành Trì Tập Yếu”, v.v... Nguyễn Lang đánh giá: “Sự ra đời của bộ Việt Nam Phật Điển Tùng San là một công trình lớn nhất của Hội Bắc Kỳ Phật giáo. Nhiều thư viện trong nước và ngoài nước nhờ sự có mặt của bộ này mà có được một số tác phẩm xưa của Phật giáo Việt Nam”([3][3]).

 

Về việc biên dịch kinh sách và hoằng pháp. Cùng với việc thuyết pháp thường xuyên tại chùa hội quán trung ương, Thiều Chửu là một giảng sư uy tín của các trường Phật học của Hội Phật giáo Bắc Kỳ mở ở chùa Quán Sứ, chùa Bồ Đề, chùa Cao Phong, trường Phổ Quang,… Bên cạnh đó, ông cũng đóng góp nhiều với tờ Đuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận của Hội Phật giáo Bắc Kỳ cả với tư cách cộng tác viên (những số đầu), lẫn vai trò Trưởng ban Biên tập (từ năm 1943, thay cho Trần Trọng Kim). Trên tờ Đuốc Tuệ, ông đã viết và dịch hàng trăm bài báo góp phần chấn hưng Phật giáo với các chủ đề: Phật giáo nhân gian, tu tập Tịnh Độ, Thiền - Tịnh song tu, Duy Thức học,… Ông còn là dịch giả và tác giả của hơn 90 tác phẩm về nhiều lĩnh vực, trong đó chủ yếu về Phật giáo, tiểu biểu như: “Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính”, “Hán-Việt tự điển”, “Phật học vấn đáp”, “Phật học cương yếu”, “Duy Thức nhập môn”, “Mấy phép tu hành thiết yếu của người tu hành tại gia”, “Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX”, v.v…

 

Về công tác từ thiện xã hội. Năm 1937, Thiều Chửu cùng với cụ Cả Mọc, các ông Hoàng Đạo Thúy và Trần Duy Hưng tham gia cứu trợ đồng bào các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang bị lũ lụt. Năm 1943, ông lập am Tế Độ chữa bệnh Đông y cho hội viên Hội Phật giáo Bắc Kỳ và dân nghèo khu vực Tổng Mọc. Ông tổ chức nuôi dạy và cứu đói cho hàng trăm trẻ mồ côi và trẻ thất lạc gia đình trong chiến tranh tại trường Phổ Quang. Năm 1945, ông cùng với các thành viên của Hội Tế Sinh (do cụ Cả Mọc sáng lập), Hội Hướng Đạo (do ông Hoàng Đạo Thuý làm Hội trưởng), Ban Cứu Tế (do Thượng toạ Tố Liên làm Trưởng ban) cứu giúp hàng nghìn người thoát khỏi nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Vì những kinh nghiệm và thành tích từ thiện xã hội nói trên, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông làm Bộ trưởng Bộ Cứu Tế Xã Hội. Tuy nhiên, ông đã từ chối nhiệm vụ này để toàn tâm cho Phật sự.

 

Những nội dung nêu trên đã được đề cập cụ thể trong các tham luận khoa học tại “Sinh hoạt lịch sử kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn hoá Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha” do Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường tổ chức ngày 21 tháng 6 năm 2002 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội và một số tư liệu mới sưu tầm, tất cả đã được tập hợp và in trong cuốn “Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902-1954)”, Nxb Tôn giáo, 2008. Do vậy, bài viết này chỉ đề cập thêm một đóng góp nổi bật nữa của cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đó là những đề xuất về phương thức tu tập và sinh hoạt Tăng già. Hệ thống quan điểm này được ông trình bày chi tiết trong tác phẩm “Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX”([4][4]).  

 

Từ những kiến thức đã học, những điều từng trải nghiệm thực tế, kế thừa sự nghiên cứu của các nhà Phật học tiền bối, nhất là chủ kiến của hai vị pháp sư nổi tiếng trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Hoa là Thiện Nhân và Thái Hư, Thiều Chửu đã đề xuất thêm một số phương thức tu tập và sinh hoạt Tăng già nhằm hạn chế những việc làm sai lầm của tăng sĩ và tín đồ, mong muốn Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển sâu rộng trong nhân gian. Theo đó, nói một cách khái quát nhất thì lộ trình phương thức tu tập và sinh hoạt Tăng già Việt Nam thế kỷ XX như sau:

 

Về hình thức tu tập: Người đệ tử Phật mới tu thì ở chỗ tĩnh, sau phải tu ở chỗ động. Tu chỗ tĩnh là tự độ (liễu sinh tử), tu chỗ động là độ tha (độ chúng sinh). Phương pháp tu tập này được Thiều Chửu coi là “khuôn vàng thước ngọc” cho sự thành công của người tu hành đạo Phật.

 

Về cách thức tu tập: phục hưng Định học, kết hợp tu Định với tu Thiền, trong đó tu Định trước, tu Thiền sau. Không nên coi Thiền tức là Định, nói cách khác, không nên coi Thiền Định là một, bởi vì Thiền và Định công dụng khác nhau. Định học là cách gạn trong dần dần, tức là gạn sạch những suy nghĩ tán loạn. Còn Thiền học là môn học siêu việt ngay (đốn ngộ) có cội nguồn ở Bát Nhã. Sự tu tập Thiền và Định chỉ nên phân biệt trước sau, nông sâu, chứ không nên quá tách biệt. Nếu Phật tử chỉ tu tập riêng một phép Thiền thì khó thành công mà cũng khó nảy ra Tuệ. Do vậy, phương pháp tu tập của Phật giáo phải có sự kết hợp Thiền và Định, theo nguyên tắc là phải tu Định trước rồi mới tu Thiền sau.

 

Về việc cải sửa tăng luật: có thể giảm những giới luật nhỏ và nhẹ (giới khinh). Phật Tổ trước khi nhập diệt từng nói: "Giới luật ta đã định ra là lâm cơ mà định, bất tất phải giữ tất cả. Điều luật nhẹ, nhỏ, tuỳ theo sự tình cũng có thể gia giảm được cả”([5][5]). Những giới luật nhỏ và nhẹ của Phật giáo được chế định ra theo hoàn cảnh và phong tục từng nơi. Nay cảnh đã khác, tục đã đổi, do vậy giới luật Phật giáo nên cải sửa cho phù hợp phong tục Việt Nam và sự biến đổi của thời cuộc theo đường hướng “giản” còn hơn “lạm”.

 

Trên tinh thần tuỳ duyên bất biến, bất biến tuỳ duyên, theo Thiều Chửu, Tăng luật Phật giáo Việt Nam ngày nay phải giữ nghiêm ngặt “4 điều trên, Điều 5, Điều 8” của Luật Sa Di, “Tứ khí, Thập Tam Tăng Tàn, Nhị Bất Định, Tam Thập Bát Ba Dật Đề, Bách Chúng Học” trong Luật Tỳ Kheo. Nên khai phóng “các điều 6, 8, 9, 10” của Luật Sa Di, “Tam Thập Xả Đoạ, Ngũ Thập Nhị Ba Dật Đề, Tứ Hướng Hối, Thất Diệt Tranh” của Luật Tỳ Kheo, vì những giới luật này đều theo phong tục Ấn Độ. Riêng Luật Bồ Tát, trước theo “Kinh Phạm Võng”, nay nên theo “Bồ Tát Giới Phẩm” trong “Du Già Sư Địa Luận”.

 

Giới xuất gia thì nên chia làm hai: “Một là Khúc Vãng Bồ Tát, trước thụ Luật Sa Di Bật Sô, khi phát tâm lợi tha lại thụ trì giới Bồ Tát, suốt đời không thụ cũng được; Hai là Trực Vãng Bồ Tát thì thụ ngay giới phẩm Bồ Tát. Giới bản nên dùng bộ Du Già Luận”([6][6]).

 

Về phần mình, Thiều Chửu cho biết, ông và một số đạo hữu chỉ tuân giữ theo 26 thứ phiền não trong 100 pháp làm Ý giới; 5 thứ sát, đạo,.. làm Thân giới; 4 thứ vọng ngữ làm Khẩu giới. Những giới luật này, theo ông, vừa dễ ghi nhớ, vừa không trái với ý của Phật, lại vừa có thể “bịt chặt lối tà”.

 

Quan điểm cải sửa giới luật Phật giáo cho phù hợp với sự phát triển xã hội thế tục của Thiều Chửu cũng là vấn đề quan tâm của một số nhà lý luận trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc đương thời. Ngay từ năm 1937, trong bài “Phật giáo tân luận”, cư sĩ Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật đã cho rằng: Giới luật rất quan trọng trong việc tu tập Phật giáo, vì có Giới mới có Định, có Định mới sinh Tuệ. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều tôn giáo khác, sau hơn 2.000 năm lưu truyền, nội dung kinh sách Phật giáo đã bị thêm thắt nhiều. Do vậy, ngày nay giới luật Phật giáo cần phải cải sửa lại theo đường hướng bỏ những phần "tử pháp" và giữ lại những phần "hoạt pháp"([7][7]).

Về việc không phán thời, phán giáo, không chia rẽ tông phái: từ hậu quả xấu do sự xích mích, nội tranh giữa Phật giáo Tiểu Thừa với Phật giáo Đại Thừa ở Ấn Độ trong lịch sử, Thiều Chửu đề nghị Phật giáo Việt Nam ngày nay không nên chia rẽ tông phái. Cách thức giải quyết vấn đề này là: cái nào có ích thì để lại, cái nào vô vị thì bỏ đi.

 

Cái đáng bỏ đi đầu tiên chính là căn bệnh phán thời. Phán thời tức là các tông phái chia giai đoạn thuyết pháp của Đức Phật ra thành nhiều thời với dụng ý phán đoán kinh của các tông phái khác nói trước, kinh của tông phái mình nói sau, để chứng tỏ tông mình là rộng lớn cao siêu. Sự tai hại của lối phán thời là chỉ tôn trọng và phóng đại Tổ của tông phái mình, bài bác Tổ của các tông phái khác. Lối hành xử này chỉ dẫn tới sự chia cắt Phật giáo. Giải pháp chữa trị căn bệnh phán thời là từ bỏ lối quá tôn Tổ riêng mà quy về một vị giáo chủ là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

 

Cái đáng bỏ thứ hai là căn bệnh phán giáo. Vì sự tranh giành, các tông phái phán giáo còn mạnh hơn phán thời. Muốn thống nhất Tiểu Thừa và Đại Thừa thành "môn đình Đại Thừa" để Phật giáo có thể phát triển mạnh mẽ, thì không nên phân biệt và chia rẽ tông phái, đúng như lời Phật: "Nói pháp bình đẳng không chia cao thấp, thuốc không tốt xấu, khỏi bệnh là hay". Giải pháp chữa trị căn bệnh phán giáo là người học Phật phải nghiên cứu kỹ càng kinh sách Phật giáo theo đường hướng phải dựa vào lời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứ không nên quá tin theo lời của sư Tổ các tông phái.

 

Đã không phán thời, không phán giáo, thì cũng không nên chia rẽ tông phái. Còn khi quy giáo về Đức Phật, tức là Tổng Tông, thì Phật giáo có thể chia tông phái. Khi ấy, Phật giáo nên chia thành 2 tông: một là Hành Tông, tức mỗi phần theo một kinh, một luận, một môn, một hạnh để chuyên tu; hai là Lý Tông để bao quát mọi lý của các kinh, luận.

 

Từ việc không phán giáo, không phán thời, không chia rẽ tông phái, phương pháp tu học của Phật tử bên cạnh cách thức mà Đức Phật Tổ từng dạy là "Y pháp chẳng y người, y nghĩa chẳng y lời", trên nền tảng cơ - giáo hợp nhau, còn phải hiểu rõ Thể - Dụng, đặt vững nền tảng, tu tập thực sự và trông mong chứng quả.

 

Về sinh hoạt Tăng già: theo truyền thống, Tăng già có ba hình thức sinh hoạt căn bản: một là khất thực, hai là bán kinh và tụng kinh thuê, ba là làm ruộng vườn (nông Thiền). Ngày nay, xã hội Việt Nam đã thay đổi, nên sinh hoạt của Tăng già cũng cần sửa đổi. Sinh hoạt mới của Tăng già, theo Thiều Chửu, không gì tốt hơn là thực hành 3 nghề: công nghệ, y dược và giáo dục. Đây là những nghề chân chính, không những không trở ngại đến việc tu tập Phật giáo mà còn có thể cứu giúp được nhân quần cả thể chất lẫn tinh thần.

 

Về phương thức hoằng pháp: muốn tiếp nối tuệ mệnh của Phật Tổ, Thiều Chửu cho rằng, tăng sĩ Việt Nam ngày nay không được tu hành ẩn dật, mặc kệ việc đời mà phải tăng cường thực hành cứu độ cho nhân gian hiện thế bằng hàng loạt công việc cụ thể, chẳng hạn như: chú trọng thuyết pháp, mở trường học, mở xưởng thợ, mở nhà thương, mở viện dục anh, mở nhà dưỡng lão, cứu tế chiến trường, mở sở vận tải, dán khẩu hiệu cảnh tỉnh, phát truyền đơn dẫn đạo, mở nhà in kinh sách,v.v...

 

Tóm lại, có thể thấy, những đề xuất của cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha về phương thức tu tập và sinh hoạt Phật giáo, do dựa chắc vào quan điểm “Nhân gian Phật giáo” vốn ảnh hưởng trực tiếp từ vị thủ lĩnh phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc là Hoà thượng Thái Hư, nên có tính khả thi cao, một số được áp dụng ngay trong thực tiễn đời sống Phật giáo đương thời, một số còn có giá trị và là đường hướng hoạt động của giới Phật giáo Việt Nam trong các giai đoạn sau này và hiện nay./.

 

TS Lê Tâm Đắc

Chuyển lên WebQDY: VHN - PNĐ



[1][1] Chi tiết ý nghĩa các tên hiệu của cư sĩ Nguyễn Hữu Kha, xin xem cụ thể: Vũ Tuấn Sán. Thiều Chửu: Một tấm gương sáng kết hợp tinh thần yêu nước với đạo Thiền, trong: Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Nguyễn Đại Đồng (thực hiện). Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902-1954). Nxb Tôn giáo, 2008, tr.34-36.

[2][2] Về hoạt động của nhóm Phật Học Tùng Thư cũng như những đóng góp cụ thể của Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha với tổ chức Phật giáo này xin xem thêm: Hoà thượng Thích Trí Hải, Hồi ký thành lập Hội Phật Giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2004; Lê Tâm Đắc, Hoà thượng Thích Trí Hải và quá trình vận động chấn hưng Phật giáo Miền Bắc giai đoạn 1924-1934, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 4 (114)/2011, tr.11-14.

 

[3][3] Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. Tập I-II-III. Nxb Văn học. Hà Nội 2000, tr.880.

[4][4] Tác phẩm này ấn hành lần đầu tiên vào năm 1952, Nhà xuất bản Tôn giáo in lại vào năm 2002.

[5][5] Thiều Chửu. Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX. Nxb Tôn giáo. Hà Nội 2002, tr.59.

[6][6] Thiều Chửu. Sách đã dẫn, tr.61.

[7][7] Nguyễn Trọng Thuật. Phật giáo tân luận. Báo Đuốc Tuệ, số 74, năm 1937, tr.10.




 TinTucMoi
Category
 
 Liên kết
 Tác giả - Tác phẩm

ArticleCategory
Skip Navigation Links.
 Số lượng người truy cập  

 

 

Copyright 2010 by Quân Dân Y. Được phát triển bởi Việt Khoa